Dự Luật Nhân Quyền Việt Nam 2013

Icon_Symbols_Hoi Doan_HRW
Quốc Hội Hoa Kỳ thứ 113
Bản dịch: Duy Hữu Mai
September 13, 2013 at 10:58pm
Dự Luật 1897: Dự Luật Nhân Quyền Việt Nam 2013
Quốc Hội thứ 113, nhiệm kỳ 2013-2015. Bản viết ngày 9 tháng 9, 2013
(Đã được chuyển sang ủy ban Thượng Viện)
Quốc Hội thứ 113
Buổi Họp Thứ Nhất
Dự Luật số 1897.
Tại Thượng Viện Quốc Hội Hoa Kỳ
Ngày 9 tháng 9, 2013
Đã nhận, đọc hai lần và chuyển sang Ủy Ban Đối Ngoại trong Thượng Viện.
DỰ LUẬT
Thúc đẩy tự do và dân chủ ở Việt Nam
Chương 1: Tựa ngắn và Mục Lục(a) Tựa Ngắn của Dự Luật này có thể gọi là Luật Nhân Quyền Việt Nam 2013

(b) Mục Lục: Mục lục của Dự Luật này bao gồm:

Chương 1: Tựa ngắn và mục lục.
Chương 2: Tìm hiểu và mục đích.
Chương 3: Ngăn cấm tăng cường viện trợ ngoài mục đích nhân đạo cho chíng phủ Việt Nam.
Chương 4: Chính sách ngoại giao Hoa Kỳ.
Chương 5: Ủy ban nhân quyền tại Liên Hiệp Quốc.
Chương 6: Báo cáo hằng năm.
Chương 2: Tìm Hiểu và Mục Đích(a) Tìm Hiểu – Quốc Hội xét thấy những điều sau đây:

(1) Quan hệ giữa Hoa Kỳ và CHXHCN Việt Nam gia tăng một cách đáng kể từ sau khi kết thúc cấm vận năm 1994 với mậu dịch giữa hai nước đạt gần 25 tỉ mỹ kim trong năm 2012.

(2) Sự chuyển tiếp của chính phủ Việt nam hướng đến tự do lớn hơn trong kinh tế và mậu dịch không đi đôi với tự do hơn trong chính trị và tiến triển đáng kể trong quyền căn bản của con người cho công dân Việt Nam bao gồm tự do tôn giáo, tự do ngôn luận, tự do liên kết và hội họp.

(3) Quốc Hội Hoa Kỳ đã đồng ý cho Việt Nam trở thành thành viên chính thức của World Trade Organization (WTO) năm 2006 dựa trên những cam kết là chính phủ Việt Nam đã và sẽ tiếp tục cải thiện nhân quyền.

(4) Việt Nam vẫn còn là một quốc gia độc đảng, thống trị và kiểm soát bởi Đảng Cộng Sản Việt Nam (ĐCSVN), và đảng này vẫn tiếp tục chối bỏ quyền của công dân muốn thay đổi nhà nước của mình.

(5) Trải qua những năm gần đây Quốc Hội Việt Nam đã có một vai trò năng động hơn như một diễn đàn đề cao mối quan tâm của địa phương, tham nhũng, tính không hiệu quả của nhà nước. Quốc Hội vẫn chịu sự định hướng của ĐCSVN, và ĐCSVN vẫn giữ sự kiểm soát trong việc đề cử trong các cuộc bầu cử toàn quốc và địa phương.

(6) Chính quyền Việt Nam nghiêm cấm đặt vấn đề công khai tính hợp pháp của quốc gia độc đảng, hạn chế tự do bày tỏ ý kiến, tự do báo chí, tự do liên kết và kiểm soát gắt gao việc tiếp cận internet và phương tiện viễn thông.

(7) Từ khi gia nhập World Trade Organization vào ngày 11 tháng 1 năm 2007, Chính Phủ Việt Nam đã tùy tiện bắt giữ, giam cầm nhiều cá nhân vận động ôn hòa cho tự do tôn giáo, dân chủ. Và nhân quyền bao gồm Linh Mục Nguyễn Văn Lý, luật sư nhân quyền Nguyển Văn Đài, Lê Thị Công Nhân, Cù Huy Hà Vũ và Lê Công Định, blogger Nguyễn Văn Hải, Tạ Phong Tần và Lê Văn Sơn.

(8) Chính Phủ Việt Nam tiếp tục bắt giữ, bỏ tù, giam lỏng kết án hoặc hạn chế những cá nhân trong việc bày tỏ ôn hoà bất đồng chính kiến hay tôn giáo.

(9) Chính phủ Việt Nam tiếp tục bắt giữ những lãnh đạo công đoàn và hạn chế quyền thành lập công đoàn độc lập.

(10) Chính phủ Việt Nam tiếp tục hạn chế tự do tín ngưỡng, hạn chế sinh hoạt của những tổ chức tôn giáo độc lập, đàn áp những cá nhân có tín ngưỡng bị chính phủ quy kết là đe dọa đến quyền hạn độc tôn của họ.

(11) Ngoài những báo cáo tiến triển trong việc mở thêm nhà thờ, đăng ký của những nơi hoạt động tôn giáo, Chính Phủ Việt Nam đã ngăn chặn hầu hết những hành động tích cực kể từ khi Bộ Ngoại Giao Mỹ đưa Việt Nam ra khỏi danh sách “Những Quốc Gia Cần Quan Tâm Đặc Biệt” từ tháng 11, 2006.

(12) Những nhà thờ Tin Lành không đăng ký của các sắc dân thiểu số, nhất là Người Thượng ở Trung và Tây Bắc Tây Nguyên phải cam chịu những ngược đãi do hành động của chính quyền Việt Nam bao gồm bị ép buộc bỏ đạo, bắt bớ, sách nhiễu, cắt phúc lợi xã hội mà mọi người dân được hưởng, tịch thu và phá hủy tài sản, đánh đập thô bạo và giết chóc.

(13) Đã và đang có xu hướng phản ứng bằng bạo lực từ phía Chính Quyền đối với những buổi cầu nguyện và biểu tình ôn hòa của giáo dân Công Giáo đòi lại tài sản của giáo phận bị chính quyền tịch thu. Ngưòi biểu tình bị sách nhiễu, đánh đập, bắt bớ và tài sản giáo hội bị phá hủy. Giáo dân Công Giáo tiếp tục phải đối diện với hạn chế trong việc chọn giáo sỹ, thành lập chủng viện và chọn nhân sự cho chủng viện, hạn chế quyền đi lại của cá nhân và đăng ký hoạt động tôn giáo.

(14) Trong tháng 5, 2010, tại Cồn Dầu thuộc giáo phận Đà Nẵng phải đối diện với bạo lực trong một đám tang khi công an cản trở việc chôn cất theo đạo; hơn 100 người bị thương, 62 người bị bắt, 5 người bị tra tấn và ít nhất có 3 người chết.

(15) Giáo Hội Việt Nam Thống Nhất bị ngược đãi khi Chính Quyền Việt Nam tiếp tục hạn chế liên lạc và sự đi lại của các tăng thống giáo hội chỉ vì từ chối tham gia giáo hội do nhà nước bảo trợ. Chính Phủ hạn chế tự do bày tỏ, hội họp, và tiếp tục sách nhiễu, hăm dọa các tăng ni và các lãnh đạo của gia đình phật tử.

(16) Chính Phủ Việt Nam tiếp tục đàn áp tín đồ của các tôn giáo khác như Cao Đài, Phật Giáo Hòa Hảo vì không được nhà nước công nhận hay liên quan đến những tổ chức bị nhà nước cấm. Sự đàn áp bao gồm tạm giam, bỏ tù, hay bị chính quyền theo dõi gắt gao.

(17) Nhiều người Thượng thiểu số và nhiều cá nhân khác vẫn bị giam cầm lâu dài bởi những bản án cho việc tham gia biểu tình ôn hòa từ năm 2001, 2002, 2004, và 2008. Nhiều người Thượng vẫn phải đối diện với hăm dọa, tạm giam, đánh đập, và cả cái chết do cán bộ chính phủ gây ra.

(18) Người dân tộc HMông ở phía bắc, tây bắc cao nguyên và cao nguyên trung phần Việt Nam cam chịu những hạn chế, tịch thu tài sản, ngược đãi, và bức hại do chính quyền Việt Nam.

(19) Chính phủ Việt Nam hạn chế người dân tộc Khơ Me Krom quyền tự do bày tỏ, hội họp, lien kết. tịch thu hầu hết các chùa phật Khơ Me, kiểm soát tất cả các tổ chức Đạo Phật Khơ Me Kaon và cấm hầu hết những chống đối ôn hòa.

(20) Chính phủ Việt Nam kiểm soát hầu hết các báo in và báo điện tử bao gồm việc tiếp cận Internet, phá nhiễu sóng của các đài phát thanh nước ngoài trong đó có đài Á Châu Tự Do (Radio Free Asia). Chính phủ đã bắt giữ và bỏ tù những cá nhân đăng, phát hành, gửi, hay phát tán tài liệu liên quan đến dân chủ.

(21) Ở Việt Nam những người bị bắt vì hành động liên quan đến chính trị và tôn giáo thường không được theo trình tự pháp lý và họ không được hoàn toàn tự do tiếp xúc với luật sư theo sự chọn lựa của mình, có thể bị xử kín, bị giam giữ nhiều năm không qua xét xử, hoặc bị tra tấn ép nhận tội mà họ không gây ra, hoặc ép vu cáo chính những người thủ lĩnh của mình.

(22) Việt Nam tiếp tục là quốc gia cung cấp cho công nghệ tình dục, hay ép buộc lao động đối với phụ nữ trưởng thành và thiếu nữ, là nguồn cung cấp lao động cả đàn ông lẫn phụ nữ thong qua hợp đồng lao động quốc tế mà trong đó họ phải mang nợ và bị ép làm việc. Việt Nam tiếp tục là điểm đến quốc tế của nạn buôn bán trẻ em và tiếp tục có tệ nạn mua bán trẻ em trong biên giới của mình.

(23) Có nhiều báo cáo cho thấy cán bộ và nhân viên Việt Nam tham gia vào, tạo điều kiện, bỏ qua, hay đồng lõa trong những trường hợp buôn người nghiêm trọng.

(24) Những chương trình định cư của di dân vào Hoa Kỳ bao gồm Chương Trình Định Cư Nhân Đạo cho cựu tù nhân chính trị (Humanitarian Resettlement Program), Chương Trình Ra Đi Có Trật Tự (Orderly Departure Program), Chương Trình Tái Định Cư cho các thuyền nhân trở về (Resettlement Opportunities for Vietnamese Returnees Program), chương trình tái định cư đại trà cho thuyền nhân tại các trại tị nạn Đông nam Á, Chương Trình Tái Định Cư cho con lai (Amerasian Home Coming Act of 1988), và Chương Trình cho nhũng cá nhân cần bảo vệ đặc biệt (Priority One Refugee Resettlement) đã giúp giải thoát rất nhiều người gốc Việt đã trải qua những bức hại vì những liên quan đến Hoa Kỳ, và trong nhiều trường hợp sự liên quan đó là do qua người phối ngẫu, cha mẹ, hoặc những ngưới thân khác trong gia đình. Ngoài ra còn có những người bị bức hại do sắc tộc, tôn giáo, quốc tịch, xu hướng chính trị, hoặc là thành viên của tổ chức xã hội.

(25) Trong khi những chương trình kể trên thực hiện tốt vai trò của chúng, một số đáng kể người di dân gốc Việt trong đó có trẻ lai hội đủ điều kiện lại bị từ chối một cách bất công hoặc bị loại bỏ vì thù hằn hay cán bộ suy đồi của Việt Nam có làm việc trong chương trình, hay có những trường hợp do nhân sự Hoa Kỳ áp đặt những diễn giải cứng nhắc vào tiêu chí của chương trình. Ngoài ra chính phủ Việt Nam còn từ chối cấp hộ chiếu cho các cá nhân mà Hoa Kỳ đã quyết định hội đủ điều kiện nhập cư.

(26) Có báo cáo là Chính quyền Việt Nam đang gian giữ hàng chục ngàn người trong số đó có cả những người 12 tuổi tại những trại cai nghiện và đối xử với họ nhu những nô lệ lao động.

(27) Trong năm 2012, trên 150 ngàn người ký một thỉnh nguyện thư trên mạng kêu gọi chính quyền không khuếch trương mậu dịch với cộng sản Việt Nam vì lý do nhân quyền.

(28) Quốc Hội đã thông qua rất nhiều nghị định phản đối lạm dụng nhân quyền tại Việt Nam. Việc này cho thấy mặc dù quan hệ có nới rộng với chính phủ Việt Nam, nhưng không đồng nghĩa với việc chấp nhận những vi phạm nghiêm trọng về quyền căn bản của con người tại Việt Nam.

(b) Mục Đích: Mục đích của Đạo Luật này nhằm thúc đẩy sự phát triển tự do và dân chủ tại Việt Nam

CHƯƠNG 3: CẤM TĂNG VIỆN TRỢ NGOÀI MỤC ĐÍCH NHÂN ĐẠO CHO CHÍNH PHỦ VIỆT NAM

(a) Viện Trợ.

(1) TỔNG QUÁT: Ngoại trừ n

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s