CXN_071515_9615_Mỹ cần VN vào TPP hay ngược lại ??? Loạt 4 bài về sản xuất nông sản của HK từ sau đệ nhị thế chiến (CAFTA, negotiation skills, farm produce). Bài 3: Chính sách nông nghiệp và Thương mại Thế giớ i

Sẽ loại bỏ nhiều loại phí thú y

CXN_071515_9613_Mỹ cần VN vào TPP hay ngược lại ??? Loạt 4 bài về sản xuất nông sản của HK từ sau đệ nhị thế chiến (farm produce). Bài 2: Sản xuất nông sản trong những năm 1980 và 1990
=
CXN_071515_9612_Mỹ cần VN vào TPP hay ngược lại ??? Loạt 4 bài về sản xuất nông sản của HK từ sau đệ nhị thế chiến (farm produce). Bài 1: Sản xuất nông sản Mỹ sau Thế chiến thứ 2

Châu Xuân Nguyễn
+++++

Chẳng cần nhìn đâu xa, thấy Obama tự lật kèo về Nhân quyền, Tự Do, Dân Chủ là đủ thấy ai cần ai hơn.. CXN_071515_9611_Càng ngày CXN càng hiểu tâm tư của TT Thiệu tấn công Hoa Kỳ dữ dội về vi ệc bán đứng dân miền Nam đầu năm 1975 cho CSBV và Trung Cộng vì đây là lần 2, HK lại giở trò bán đứng 93 triệu dân VN cho tập đoàn ngu dốt CSVN: Đại sứ Mỹ tại VN: ‘Tình hình đang thay đ ổi’
=
CXN_070815_9517_Người Việt Hải Ngoại bị ĐCSVN, Việt Tân, XHDS, PT Dân Chủ lừa bịp như th ế nào ??? Họ không nghe lời khuyên của Cố TT Thiệu. Họ bị lừa như từng bị MTGPMN lừa mất n ước. (tricked, 27 Hội Đoàn, LĐV)
=
CXN_041215_8617_Tại sao 99% Người Việt Hải Ngoại (trong đó có CXN) muốn CSVN bị loại khỏi TPP để CS không phục hồi KTVM và sụp đổ nhưng đồng chí An Ninh Thành Ủy Phạm Chí Dũng bằng mọi cách tranh đấu (có vẻ chỉ để chống đám Đảng Viên bảo thủ thân Tàu Cộng) để VN thành công trong TPP để kéo dài ĐCS 50 hay 100 năm nữa, vậy mà NVHN vẫn tung tiền cho PCD, XHDS, Trúc Hồ, tại sao NVHN không nhìn thấy nhỉ ???? (âm mưu Lao Động Việt): Cơ Hội Thay Đổi Việt Nam (27 Hội Đoàn,LĐV,protest)

Trích bài viết dưới đây:”Hoa Kỳ đặc biệt muốn có một cam kết xóa bỏ các tài trợ nông trại của châu Âu và chấm dứt lệnh cấm nhập khẩu gạo của Nhật Bản..“(HT) Ngay tới tận ngày hôm nay, thị trường gạo dẻo (sushi) của Nhật vẫn đóng kín mít.

=

Ở một xã hội thật sự dân chủ như Mỹ, Úc, lấy tiền thuế của xã hội để giúp một nhóm ngành nghề nào lâu dài cũng có cái giá chính trị của nó, mà không trợ giúp thì cũng phải trả giá chính trị (ie. phiếu bầu) của nông dân. Những chính sách trợ giá nông sản (farm subsidy) luôn luôn là ám ảnh của bất cử CP DC nào sau đệ nhị thế chiến. Đất nước nghèo có cái khổ của nó và lãnh đạo đất nước giàu cũng ko dễ, chỉ có Việt Cộng lúc nào cũng luôn luôn ca ngợi sự lãnh đạo tài tình của ĐCSVN thì (lúc trc chưa có internet) ok thôi.
=

Khổ tâm của Mỹ là khi quen trợ cấp rồi, khi NS eo hẹp, cắt trợ cấp sẽ bị chỉ trích. Chỉ có CSVN là tài nhất, ngăn sông cấm chợ 1975 đến 1978, ăn bo bo và khoai lang thả dàn, đến khi quá đói thì bỏ ngăn sông cấm chợ, ng dân năm 1978 ngay tức thì ơn bác và ơn đảng ban cho chúng con khỏi bị đói vì bo bo và khoai lang cũng thiếu. Trích bài dưới:”Những thay đổi này, đột phá khỏi các chính sách của thời đại kinh tế mới, không đến một cách dễ dàng. Quốc hội tìm cách để dễ dàng chuyển tiếp bằng cách cung cấp nông dân $ 36 tỉ thanh toán trong bảy năm mặc dù giá nông sản ở thời điểm này đang ở mức cao.“(HT)
=

Với những khó khăn của trái cây, chăn nuôi, nông sản của nông dân VN thì CS quá bất tài và tham nhũng nên chính ngân sách chúng nó cũng không đủ chi tiêu thì làm sao có tiền để trợ cấp nông dân như bên Mỹ…
Trích:”Nông dân tiếp tục cố gắng để tăng thu nhập của họ bằng cách sản xuất nhiều hơn, dù giá thấp hơn. Trong năm 1998 và một lần nữa vào năm 1999, Quốc hội đã thông qua luật cứu trợ tạm thời gia tăng trợ cấp nông nghiệp mặc dầu đạo luật năm 1996 đã bãi bỏ. Trợ cấp 22,5 tỉ USD trong năm 1999 thiết lập một kỷ lục mới về trợ cấp nông sản“(HT)
=

KẾT LUẬN
=

Với những Hiệp Định Thương Mại Á, Âu Mỹ trong vài năm gần đây, hội nhập là giết những DN còn lại của VN. Nhật khi thương lượng thì có những vùng cấm như gạo dẽo Nhật (giá đắt gấp 5 hay 10 lần Thái) và hằng loạt nông sản không bàn luận trong thương thảo, ngay cả Mỹ cũng ko áp lực nỗi nên Mỹ phải chấp nhận vị trì thương lượng của Nhật.

Trong khi đó VN bất tài, đem những tay không biết nhiều về anh ngữ, nông sản, tiêu dùng và chúng nó cũng ko tham khảo để biết ta và biết người (Mỹ) để thương lượng mà ko mở toạt cữa thị tường của VN 100 tỉ đô/năm trong khi DNNVV đóng cửa 650 ngàn/700 ngàn, GDP của DN tư nhân là 11%, hộ gia đình là 33%, DNNN thì hấp hối ở 33%, chỉ có FDI là 23% thì làm sao sản xuất để thâm nhập thị trường của những FTA’s đối tác ??? Cái ngu của ĐCSVN thì không bờ bến nhưng chúng vẫn khư khư độc nhất lãnh đạo để đưa đất nước này và dân tộc này xuống vực thẩm của nghèo đói. Nếu so sánh với ngăn sông cấm chợ thì VN phải ơn bác ơn đảng nhưng so với những đối tác ký kết FTA’s thì chúng ta là con giun con dế và mãi mãi vẫn thế nếu còn ĐCSVN độc nhất lãnh đạo.

Melbourne 15.7.2015. Châu Xuân Nguyễn

+++++++++++++
http://economics.about.com/od/americanagriculture/a/farm_trade.htm

Farm Policies and World Trade

The growing interdependence of world markets prompted world leaders to attempt a more systematic approach to regulating agricultural trade among nations in the 1980s and 1990s.

Almost every agriculture-producing country provides some form of government support for farmers. In the late 1970s and early 1980s, as world agricultural market conditions became increasingly variable, most nations with sizable farm sectors instituted programs or strengthened existing ones to shield their own farmers from what was often regarded as foreign disruption.

These policies helped shrink international markets for agricultural commodities, reduce international commodity prices, and increase surpluses of agricultural commodities in exporting countries.

In a narrow sense, it is understandable why a country might try to solve an agricultural overproduction problem by seeking to export its surplus freely while restricting imports. In practice, however, such a strategy is not possible; other countries are understandably reluctant to allow imports from countries that do not open their markets in turn.

By the mid-1980s, governments began working to reduce subsidies and allow freer trade for farm goods. In July 1986, the United States announced a new plan to reform international agricultural trade as part of the Uruguay Round of multilateral trade negotiations. The United States asked more than 90 countries that were members of the world’s foremost international trade arrangement, known then as the General Agreement on Tariffs and Trade (GATT), to negotiate the gradual elimination of all farm subsidies and other policies that distort farm prices, production, and trade.

The United States especially wanted a commitment for eventual elimination of European farm subsidies and the end to Japanese bans on rice imports.

Other countries or groups of countries made varying proposals of their own, mostly agreeing on the idea of moving away from trade-distorting subsidies and toward freer markets. But as with previous attempts to get international agreements on trimming farm subsidies, it initially proved extremely difficult to reach any accord. Nevertheless, the heads of the major Western industrialized nations recommitted themselves to achieving the subsidy-reduction and freer-market goals in 1991. The Uruguay Round was finally completed in 1995, with participants pledging to curb their farm and export subsidies and making some other changes designed to move toward freer trade (such as converting import quotas to more easily reduceable tariffs). They also revisited the issue in a new round of talks (the World Trade Organization Seattle Ministerial in late 1999). While these talks were designed to eliminate export subsidies entirely, the delegates could not agree on going that far. The European Community, meanwhile, moved to cut export subsidies, and trade tensions ebbed by the late 1990s.

Farm trade disputes continued, however. From Americans’ point of view, the European Community failed to follow through with its commitment to reduce agricultural subsidies. The United States won favorable decisions from the World Trade Organization, which succeeded GATT in 1995, in several complaints about continuing European subsidies, but the EU refused to accept them. Meanwhile, European countries raised barriers to American foods that were produced with artificial hormones or were genetically altered — a serious challenge to the American farm sector.

In early 1999, U.S. Vice President Al Gore called again for deep cuts in agricultural subsidies and tariffs worldwide. Japan and European nations were likely to resist these proposals, as they had during the Uruguay Round. Meanwhile, efforts to move toward freer world agricultural trade faced an additional obstacle because exports slumped in the late 1990s.

Next Article: Farming As Big Business

This article is adapted from the book “Outline of the U.S. Economy” by Conte and Carr and has been adapted with permission from the U.S. Department of State.

+++++

Google dịch, CXN hiệu đính

Chính sách nông nghiệp và Thương mại Thế giới
Các QG phụ thuộc lẫn nhau ngày càng tăng của thị trường thế giới khiến các nhà lãnh đạo thế giới phải cố gắng để có một cách tiếp cận có hệ thống hơn để điều tiết thương mại nông nghiệp giữa các quốc gia trong những năm 1980 và 1990.

Hầu như tất cả các nước nông nghiệp sản xuất cung cấp một số hình thức của chính phủ hỗ trợ cho nông dân. Vào cuối những năm 1970 và đầu những năm 1980, khi các điều kiện thị trường nông nghiệp trở nên thay đổi, hầu hết các quốc gia với các ngành nông nghiệp khá lớn dựng các chương trình hoặc củng cố những chương trình hiện hữu để bảo vệ nông dân của mình từ những gì thường được coi là gián đoạn nước ngoài.

Những chính sách này làm thu hẹp thị trường quốc tế đối với mặt hàng nông sản, giảm giá hàng hóa quốc tế, và tăng dư thừa hàng hóa nông nghiệp ở các nước xuất khẩu.

Trong một nghĩa hẹp, đó là dễ hiểu tại sao một nước cố gắng để giải quyết vấn đề sản xuất thừa nông nghiệp bằng việc tìm cách xuất khẩu thặng dư của nó một cách tự do trong khi hạn chế nhập khẩu. Trong thực tế, tuy nhiên, một chiến lược như vậy là không khả thi; các nước do dự không mở cửa thị trường của mình cho những nước có giới hạn nhập khẩu.

Vào giữa những năm 1980, các chính phủ tiến hành giảm trợ cấp và cho phép thương mại tự do hơn cho hàng hóa nông nghiệp. Vào tháng Bảy năm 1986, Hoa Kỳ đã công bố một kế hoạch mới nhằm cải cách thương mại nông nghiệp quốc tế như là một phần của Vòng đàm phán thương mại đa phương. Hoa Kỳ đã yêu cầu hơn 90 nước thành viên của tổ chức thương mại quốc tế hàng đầu thế giới, được biết đến đó là Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại (GATT), thương lượng để loại bỏ dần các tất cả các trợ cấp nông nghiệp và các chính sách khác bóp méo giá cả nông sản, sản xuất và thương mại.

Hoa Kỳ đặc biệt muốn có một cam kết xóa bỏ các tài trợ nông trại của châu Âu và chấm dứt lệnh cấm nhập khẩu gạo của Nhật Bản.

Nước hoặc nhóm nước khác đều đưa ra các đề xuất khác nhau của riêng mình, chủ yếu là đồng ý về ý tưởng di chuyển đi từ trợ cấp bóp méo thương mại và hướng tới các thị trường tự do hơn. Nhưng với những nỗ lực trước đó để có được các thỏa thuận quốc tế về cắt giảm tài trợ nông sản, đã chứng tỏ rất khó khăn để đạt được bất kỳ hiệp ước nào. Tuy nhiên, người đứng đầu các quốc gia công nghiệp hàng đầu phương Tây đã tái quyết tâm đạt được những mục tiêu cắt giảm tài trợ và thị trường tự do hơn vào năm 1991. Vòng đàm phán Uruguay cuối cùng đã được hoàn thành vào năm 1995, với sự tham gia cam kết kiềm chế trợ cấp nông nghiệp và xuất khẩu của họ và làm cho một số thay đổi khác được thiết kế để chuyển hướng về thương mại tự do (chẳng hạn như chuyển đổi quota nhập khẩu trở thành mức thuế giảm hơn). Họ cũng xem xét lại vấn đề này trong một vòng đàm phán mới (các Tổ chức Thương mại Thế giới ở Seattle cấp Bộ trưởng cuối năm 1999). Trong khi các cuộc đàm phán đã được thiết kế để loại bỏ hoàn toàn trợ cấp xuất khẩu, các đại biểu không thể đồng ý về mức độ đi xa như thế này. Cộng đồng châu Âu, trong khi đó, chuyển sang cắt giảm trợ cấp xuất khẩu, và căng thẳng thương mại giảm xuống vào cuối những năm 1990.

Tranh chấp thương mại nông nghiệp tiếp tục, tuy nhiên. Từ quan điểm của Mỹ thì Cộng đồng châu Âu đã không tuân thủ đúng với cam kết giảm trợ cấp nông nghiệp. Hoa Kỳ đã giành được phán quyết có lợi từ Tổ chức Thương mại Thế giới, là tổ chức biến thể từ GATT vào năm 1995, trong một số khiếu nại về việc tiếp tục trợ cấp của châu Âu, nhưng EU đã từ chối chấp nhận chúng. Trong khi đó, các nước châu Âu gia tăng các rào cản để thực phẩm Mỹ được sản xuất với kích thích tố nhân tạo hoặc biến đổi gien – một thách thức nghiêm trọng đối với ngành nông nghiệp Mỹ.

Vào đầu năm 1999, Phó Tổng thống Mỹ Al Gore lại kêu gọi cắt giảm mạnh trợ cấp nông nghiệp và thuế quan trên toàn thế giới. Nhật Bản và các quốc gia châu Âu gần như từ chối những đề nghị, như họ đã làm trong Vòng đàm phán Uruguay. Trong khi đó, những nỗ lực hướng về thương mại nông nghiệp thế giới tự do phải đối mặt với một trở ngại do xuất khẩu giảm sút vào cuối năm 1990.

Điều tiếp theo: Trông cây Như Big Business

Bài viết này được chuyển thể từ cuốn sách “Đề cương của nền kinh tế Mỹ” của Conte và Carr và đã được chuyển thể với sự cho phép của Bộ Ngoại giao Mỹ.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s