CXN_101915_10 558_Về cạnh tranh thương mại, thằng Thái nguy hiểm hơn thằng Tàu cả ngàn lần, hàng Tàu rẻ, tồi, hàng Thái rẻ, chất lượng cao và tham vọng thâu tóm của thằng Thái là gớm lắm, NVHN Úc Mỹ đều ăn gạo Thái vì vậy. Một đất nước có cả chục ngàn TS KT, hằng trăm viện nghiên cứu KTVM, hội thảo KTVM hằng tuần, hằng ngàn cán bộ trong Bộ Tài Chính, Công Thương v.v….vậy mà phải để một NVHN ở Úc chỉ ra rằng ngành sản xuất VN đang bị án tử hình chậm nhưng chắc từ những hiệp định thương mại…. (CAFTA, negotiation skills): Doanh nghiệp Việt lo ngại trước “làn sóng” hàng giá rẻ sắp “tràn” vào Việt Nam

Displaying
Châu Xuân Nguyễn
x
Hàng tràn vào càng nhiều thì dự trữ ngoại hối càng đội nón đi ra vì thương lái vào NHTM đổi vnđ thành usd đi đánh hàng biên giới, đem về VN bán lại lấy vnd, rồi đánh ận ới, cứ thế usd đội nón ra đi ngày càng nhiều

Còn nếu là DN Thái đem hàng Thai qua hệ thống siêu thị của họ thì họ lấy tiền VN, chuyễn khoản thành usd để chuyển về Thai, vậy là usd dự trữ lại đội nón ra đi, trong khi cty sản xất VN không bán dc hàng thì mất việc, không lãnh lương, sức mua chậm.

Càng ngày kịch bản kết liễu KT của CSVN càng rõ, đồng bào ngưng đóng thuế (CP HCS sẽ không truy thu thuế), xuống đường biểu tình đột xuất để nhanh chóng lật đổ bọn ăn hại đái nát, bất tài, tham nhũng, quản lý KTVM tồi vì ngu xuẫn và dốt nát để nhanh chóng có một CP mới có tài hơn, trong sạch hơn. –

Melbourne –

19.10.15 –

xxxx
http://cafef.vn/vi-mo-dau-tu/doanh-nghiep-viet-lo-ngai-truoc-lan-song-hang-gia-re-sap-tran-vao-viet-nam-2015101410044191.chn
Thứ 4, 14/10/2015, 10:53

Doanh nghiệp Việt lo ngại trước “làn sóng” hàng giá rẻ sắp “tràn” vào Việt Nam

Doanh nghiệp Việt lo ngại trước

TIN MỚI

Khảo sát của VCCI cũng chỉ ra, có khoảng hơn 1/3 DN có thể cân nhắc sử dụng công cụ phòng vệ thương mại nếu gặp khó khăn do hàng nước ngoài cạnh tranh không lành mạnh hoặc nhập khẩu ồ ạt vào thị trường.

Trong khi các doanh nghiệp Việt Nam chỉ thực hiện bốn vụ điều tra phòng vệ thương mại đối với hàng hóa nước ngoài nhập khẩu vào Việt Nam, thì hàng hóa Việt Nam ở nước ngoài đã bị điều tra 94 vụ và có 46 vụ bị áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại. Vậy điều gì cản trở các DN Việt Nam sử dụng các công cụ phòng vệ thương mại?

Tại Hội thảo “Điều gì cản trở DN Việt Nam sử dụng các công cụ phòng vệ thương mại để tự bảo vệ trước hàng hóa nước ngoài” do VCCI thực hiện, bà Nguyễn Thị Thu Trang, Giám đốc Trung tâm WTO và Hội nhập, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) cho rằng các vụ kiện phòng vệ thương mại ở VIệt Nam chủ yếu là các biện pháp tự vệ khi có 3/4 vụ là điều tra áp dụng biện pháp này.

Đây chỉ là biện pháp bảo hộ tạm thời trước tình trạng gia tăng đột biến của hàng hóa nước ngoài nhập khẩu gây thiệt hại trong sản xuất nội địa.

Bị kiện 46 vụ, chỉ kiện có 4 vụ

Do đó, các vụ kiện này đòi hỏi trách nhiệm chứng minh nhẹ nhàng hơn cho các nguyên đơn, như không phải chứng minh hành vi cạnh tranh không lành mạnh, không phải xuất trình thông tin về chi phí của hàng hóa nhập khẩu mà thường là rất khó tiếp cận, nên dễ đi kiện hơn.

Đồng thời, việc điều ta tự vệ của Chính phủ dễ thực hiện hơn do không phải đầu tư quá lớn nguồn lực để xác định, tính toán công thức chi phí phức tạp như kiện chóng bán phá giá, chống trợ cấp. Do đó, công cụ này là một ưu thế đáng kể so với các công cụ khác đối với cơ quan điều tra, vốn chưa trải qua nhiều thử thách thực tế từ các lĩnh vực này.

Trong cả ba vụ việc phòng vệ thương mại mà Việt Nam sử dụng, nguyên đơn chỉ bao gồm 1 – 2 doanh nghiệp, với sản lượng sản phẩm liên quan đến các nguyên đơn sản xuất chiếm tới khoảng trên dưới 70 – 80% tổng sản lượng sản xuất nội địa.

Điều này cho thấy, các DN có thị phần lớn là các DN mạnh, có đủ năng lực để thực hiện việc đi kiện theo các thủ tục phức tạp cũng như có đủ nguồn lực để đầu tư vào việc đi kiện, khi coi đây là một chiến lược kinh doanh của mình.

Tuy nhiên, theo bà Trang thì điều này cũng đồng nghía với việc công cụ phòng vệ thương mại hiện vẫn đang là công cụ của “nhà giàu”, chưa phải là công cụ để bảo vệ quyền và lợi ích của các DN nhỏ, vốn là những chủ thể được đánh giá là chịu tác động mạnh nhất từ các hành vi cạnh tranh không lành mạnh.

Cũng theo Trung tâm WTO, các sản phẩm bị kiện trong cả ba vụ việc phòng vệ thương mại của Việt Nam đều không phải các sản phẩm trong tốp đầu về nhập khẩu vào Việt Nam. Đây là tín hiệu cho thấy nhiều loại hàng hóa khác của Việt Nam đang phải cạnh tranh gay gắt với hàng hóa nước ngoài nhập khẩu chưa được bảo vệ bằng công cụ phòng vệ thương mại.

Đáng chú ý, theo khảo sát về “Khả năng kiện chống bán phá giá – chống trợ cấp – tự vệ (kiện phòng vệ thương mại) đối với hàng hóa nhập khẩu gây thiệt hại cho Việt Nam” được Trung tâm WTO thực hiện với 1000 DN thuộc 6 ngành sản xuất cho thấy, khoảng 60 – 70% các DN được hỏi biết về công cụ phòng vệ thương mại

“Đặc biệt, các DN không chỉ biết về công cụ phòng vệ thương mại với tính chất là rào cản ở nước ngoài với hàng hóa xuất khẩu Việt Nam, mà còn biết đến với tính chất công cụ có thể sử dụng ở trong nước, để bảo vệ chính mình”, bà Trang nói.

Hóa nhập khẩu đang “đe dọa” hàng nội

Tuy nhiên, hiểu biết này của DN chỉ dừng lại ở mức độ “sơ khởi”, nghe nói tới chứ không có kiến thức sâu về công cụ phòng vệ. Phần lớn các DN (77%) trả lời rằng mình biết cộng cụ phòng vệ thương mại thông qua các phương tiện thông tin đại chúng.

Đáng chú ý, có tới 1/3 doanh nghiệp trả lời khảo sát rằng có tồn tại hiện tượng hàng hóa nước ngoài bán sang Việt Nam với giá thậm chí còn rẻ hơn giá bán tại thị trường nước họ. Hiện tượng này đang diễn ra phổ biến chứ không phải của riêng ngành nào.

Theo các DN trả lời khảo sát, có tới 70% DN cho rằng hàng hóa nước ngoài có thể bán với giá rất thấp vào Việt Nam là do các biện pháp bất hợp pháp, trong đó nguyên nhân là Chính phủ nước ngoài trợ cấp dưới các hình thức khác nhau; hoặc do phía nước ngoài cố tình bán rẻ (phá giá) để chiếm lĩnh thị trường giai đoạn đầu.

Việc sản phẩm nước ngoài bán giá thấp đã mang lại hệ quả lớn, khi có tới hơn nửa số DN được khảo sát cho rằng bị cạnh tranh nhiều hơn; 37,21% số doanh nghiệp cho rằng hiện tượng hàng hóa nhập khẩu bán giá thấp khiến họ không thể cạnh tranh được.

Về tình trạng gia tăng nhập khẩu một cách ồ ạt, bất thường của hàng hóa nước ngoài vào Việt Nam, có tới trên 40% DN lại khẳng định có tồn tại hiện tượng này; 73% DN khẳng định có hiện tượng này. Thực tế này gây ra những thiệt hại lớn cho các DN Việt Nam, khi có tới 44,71% DN không thể chống đỡ được tăng lên.

Mặc dù sản phẩm hàng hóa của Việt Nam đang bị cạnh tranh và “đe dọa” nghiêm trọng đến khả năng cạnh tranh và giữ thị phần trên thị trường, song thực tế DN Việt Nam sử dụng rất ít công cụ phòng vệ thương mại để bảo vệ chính mình.

Khảo sát của VCCI cũng chỉ ra, có khoảng hơn 1/3 DN có thể cân nhắc sử dụng công cụ phòng vệ thương mại nếu gặp khó khăn do hàng nước ngoài cạnh tranh không lành mạnh hoặc nhập khẩu ồ ạt vào thị trường.

Tuy nhiên, có tới 71% DN cho rằng tập hợp lực lượng để đi kiện là rất khó khăn, 86% DN cho rằng nếu đi kiện thì sẽ gặp khó khăn trong huy động nguồn lực tài chính; chỉ 11% DN cho rằng các cán bộ nhân viên của DN có thể đáp ứng được yêu cầu đi kiện và chỉ 2% DN cho rằng có thể tập hợp được đầy đủ các thông tin, bằng chứng cần thiết cho việc đi kiện.

Doanh nghiệp xuất khẩu cần quan tâm việc phòng vệ thương mại

An Ngọc

Theo Trí thức trẻ

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s