CXN _012119_14 040_ (Kỳ 1) Sẽ là một bài rất dài, CXN nghĩ tới đâu viết tới đó vì đây chính là dấu hiệu chính xác nhất của CSVN cho người dân thấy là chính chúng nó thấy chúng nó đang suy sụp về KT nhanh chóng. Trước hết, có vẻ như chỉ tới lúc này Bộ Chính Trị mới nhìn thấy rõ sự trầm trọng của nạn … hết tiền. Sự phát hiện này phát sinh từ quyết định sai lầm của BCT nâng vốn của Saigon MetroRail lên đến 95k tỷ rồi bị thuyết phục là tất cả ngân trống rỗng và muốn chi tiền phải in thêm, nó sẽ tạo lạm phát nhanh chóng như Venezuela và với một đất nước như VN sống nhờ FDI mà FDI rút hết về nước vì lạm phát hằng ngàn, hằng triệu % thì đất nước này sẽ sụp đổ rất nhanh. (Politburo Resolution to raise the efficiencies of the sources of the economy, Ministers going crazies admitting past corruption, NTQ Tâm retired in the States, corrupted party members fretting, boasting re TXThanh & ĐL Thăng, Party members committed suicide in drove, MetroRail conflict between Prime Minister and General Secretary deepened) : Nghị quyết của Bộ Chính trị về nâng cao hiệu quả các nguồn lực của nền kinh tế

Mời đọc website của Việt Nam Dân Tộc Tự Quyết bấm vào đây ở FB https://www.facebook.com/vietnamdantoctuquyet/

và blog này https://vndttq.home.blog/?blogsub=subscribed#blog_subscription-3

Professor GS Trần Thanh Đằng, một minh chủ Hậu CS, ngang tầm với 2 minh chủ kia NV Thiệu và NĐ Diệm, ko thua Lý Quang Diệu

Nếu không đọc được nội dung, hãy tải về ứng dụng Betternet VPN để vượt tường lửa.
Link vượt tường: http://bit.ly/2wzYDz9 > bấm GO
Tại VN, để xem được trang tin nước ngoài, các bạn cài VPN vượt tường lửa (cho máy tính và các thiết bị di động, smart phone). Link: http://bit.ly/2mYSZBq
xx

Mời bấm vào dưới đây để xem video https://www.youtube.com/watch?v=OPpHvgkJJBE&feature=youtu.be

Trích video: “CXN xin cam kết nếu Professor hay CXN tham nhũng 1 vnd nào thì hãy bắt Châu Xuân Nguyễn ngồi tù thay. Chuyện này lại càng khả thi. Nếu hằng triệu bạn đọc CXN từ 10 năm nay với 15 ngàn bài thuần túy KTVM và những dự báo đều chính xác từng ly thì Prof. Trần Thanh Đằng hơn cả sư phụ của CXN gấp trăm lần. Chúng tôi không sợ ai hơn chúng tôi cả, người càng hơn chúng tôi là người sẽ bước đầu giúp chúng tôi vận hành đất nước hiệu quả hơn và nếu nhóm ng đó thật giỏi thì ng dân sẽ bầu họ thay thế chúng tôi thôi. Sống ở những XH dân chủ chúng tôi hiểu rõ đây là điều căn bản để đất nước và dân tộc tiến bộ. Chúng tôi hoàn toàn ko sợ người dân chống lại chúng tôi vì một VN mới sẽ có bầu cử mỗi 5 năm. Chúng tôi sẽ “Bring the jobs back to VN” (đem công việc trở lại cho VN) và sẽ dần dà ngưng xk LĐ khi điều kiện cho phép. Chúng tôi hành động vì chúng tôi có Kỹ Sư cơ khí nắm bộ Công Thương, có kinh nghiệm về quá trình công nghệ, thương nghiệp chứ ko phải một thằng con nít playboy như Trần Anh Tuấn, ko biết gì để bắt đầu cải tổ ngành sản xuất của VN. Đất này không thể chuyển nhượng cho một người ngoại quốc mà không có phép của chính phủ. Tuy nhiên, nếu Đỗ Mười được Hàn Quốc chi 1 triệu usd chỉ để hoạt động ở VN thì chuyện 3D thu phần trăm hay phần ngàn lại quả của Samsung thì không có gì lạ. Năm 2018, Samsung xk đtdđ là 54 tỷ usd và chỉ đóng vỏn vẹn 108 triệu usd, sau khi trừ chi phí rất thấp (20-30% sales price) thì còn hơn 50 tỷ lại quả cho 3D 1/1000 rồi thì bợ nguyên xi về NH Hàn Quốc. Nước VN mới sẽ lấy lại tất cả tài sản mà bọn CS đã vơ vét của dân. Nước VN mới sẽ không để một tấc đất rơi vào tay Tàu Cộng, sẽ lấy lại Ải Nam Quan, Hoàng Sa Trường Sa, và 700 km2 mà bọn Tàu Cộng đã chiếm và bọn CSVN hèn nhát không dám đòi lại. [11.11]Nước VN mới sẽ thưa ra trước tòa án quốc tế những đất đai và hòn đảo đã bị chiếm mà nhà cầm quyền công sản đã hèn nhát làm ngơ. Chúng ta sẽ dùng võ lực nếu cần khi họ ngoan cố không trả lại đất đai hợp pháp của VN. Mọi người dân sẽ được săn sóc sức khỏe miễn phí qua một hệ thống bảo hiểm sức khỏe. CXN: Điều này Prof. Trần Thanh Đằng nói rất chính xác, Prof Trần Thanh Đằng có rất nhiều bạn từng du học Úc, Mỹ, làm cho CP hay tư nhân thời 1968-1975 và di tản khỏi VN làm cho CP hay tư nhân Tây Phương ngay bản địa nơi họ sinh sống. Nếu CXN sẵn lòng góp công sức với Prof. Trần Thanh Đằng vì CXN ko muốn tài năng mình góp vào một công việc không có lợi (CXN nghĩ những Đào Minh Quân, Trần Kiều Ngọc, Trần Huỳnh Duy Thức, Lê Công Định thì không đáng để CXN nói chuyện chứ đừng nói đến phục vụ cho họ xây dựng đất nước này) “(HT)

Châu Xuân Nguyễn
xx
Trước hết, có vẻ như chỉ tới lúc này Bộ Chính Trị mới nhìn thấy rõ sự trầm trọng của nạn … hết tiền. Sự phát hiện này phát sinh từ quyết định sai lầm của BCT nâng vốn của Saigon MetroRail lên đến 95k tỷ rồi bị thuyết phục là tất cả ngân trống rỗng và muốn chi tiền phải in thêm, nó tạo lạm phát nhanh chóng như Venezuela và với một đất nước như VN sống nhờ FDI mà FDI rút hết về nước vì lạm phát hằng ngàn % thì đất nước này sẽ sụp đổ rất nhanh.

x
Tôi xin liệt kê ra đây những điểm chính mà tôi nhìn thấy qua động tác ra NQ này. Kế đến (kỳ 2) tôi sẽ phân tích chính NQ đó hàm chứa điều gì cho nền kinh tế này
xx
1. BCT chỉ vừa mới sáng mắt sáng lòng với tình hình tồi tệ của nền KT này
2. BCT rất “tức giận” là đã bị qua mặt, để đi đến tình trạng nguy hiểm ntn. BCT kết luận rằng tình hình tồi tệ đến ntn là hậu quả của sự bưng bít, qua mặt của NXP đối với BCT và UBCHTW, BBT, QH, ĐV và LTCM kể cả 93 triệu dân
3. Để đáp ứng với tình hình nghiêm trọng ntn, BCT gần như cách chức toàn bộ CP của NXP và đang tìm một CP khác thay thế
4. Mặc dầu không biết gì nhiều về KT, KT VN hay hiện tình của KT VN nhưng BCT vẫn tước quyền ra NQ này của CP (vì CP điều hành KTVM chứ không phải BCT)
5. Đọc lướt sơ NQ này sẽ nhìn thấy đây là tiếng chông báo động là KT bế tắc, không còn nguồn lực nào nữa nên phải làm mọi cách để có tiền (trừ in tiền vì chúng đang quá sợ hậu quả của in tiền, tăng trưởng tín dụng sau khi NXP nghe lời Cấn Văn Lục in tiền thành 18.2% năm 2017, bây giờ phải xuống còn 14% nhưng vẫn rất cao so với 10-12% bình thường).
6. Chính hành động hoảng loạn này của BCT sẽ mở mất cho 93 triệu ng dân VN là sụp đổ KT là có thật và diển diễn tới rất nhanh, đúng như CXN nói
7. Sự xung khắc giữa NPT và NXP sẽ ngày càng trầm trọng, cộng với áp lực chạy tiền bở hơi tai, NXP sẽ từ chức năm 2019 này (giữ bài này xem tôi nói có đúng hay không)
8. NPT sẽ càng hoảng loạn hơn tìm người thay thế. Nhưng bất kỳ ai trong BCHTW đều nhìn ra tình thế KTVN nên sẽ không ai dám đứng ra nhận lãnh

xx
tạm thời ngưng kỳ 1, nếu có gì bổ sung sẽ ở kỳ 2.
xx
Châu Xuân Nguyễn
21.1.19
Melbourne

xxx

Mời đọc bài cũ 14 035 ngày 19.1.19

xxxxxx

CXN _011919_14 035_ Hầu như tất cả BT và Phúc Rỗng đang chịu rất nhiều áp lực về tài chính và có vẻ như họ rất lo sợ sự sụp đổ của chế độ ngày càng tiến gần. Cái áp lực thấy rõ nhất khi họ khua chuông gõ trống hô khẩu hiệu cố chứng tỏ là tất cả đều bình thường thì họ mất kiểm soát, vô tình hé lộ những cố tật tham nhũng trong quá khứ. Khi NC Dũng tuyên bố quyết tâm từ bỏ lợi ích riêng thì trong 1 triệu ng đọc câu này, 999,999 người sẽ cười thầm là.. “Ah há, vậy là thằng này vô tình nói là quá khứ chúng làm công việc vì lợi ích riêng của chúng nó. Nay Ngân sách rỗng tuếch mà không dám in tiền nên chúng mới quay qua từ bỏ lợi ích riêng. Chúng tẩu hỏa nhập ma vì hoảng loạn hết rồi(Ministers going crazies admitting past corruption, NTQ Tâm retired in the States, corrupted party members fretting, boasting re TXThanh & ĐL Thăng, Party members committed suicide in drove, MetroRail conflict between Prime Minister and General Secretary deepened): Bộ trưởng Nguyễn Chí Dũng: Chúng tôi đã quyết tâm từ bỏ lợi ích riêng để giải phóng nguồn lực quốc gia!

xxx

Châu Xuân Nguyễn
xx
Mời đọc bài cũ 11 966 ngày 20.1.17 (2 năm trc)

xxx

CXN _012017_11 966_ Càng ngày càng thấy ngạc nhiên với những thằng bất tài, vô tướng làm Bộ Trưởng của CP NXP này. Mở đường rồi thì đi bằng phương tiện nào, đi lối nào ??? Đi nhanh hay chậm ??? Tại sao cứ đứng đó mà ca ngợi đã mở đường, ca ngợi thành tích 8 tháng rồi mà trg 8 tháng đó điếu làm dc gì cả cho đất nước, cho suy thoái này ??? (power of corruption, cronies, system crumple, the economy is ceasing to operate, bế tắc KT, idiotic PM, 2016-2020 restructuring, the truth came out, looming recession, where do we go from here, incompetent minister) : Bộ trưởng Nguyễn Chí Dũng: 2017 được coi là năm “mở đường

xxx

Châu Xuân Nguyễn
xx
Đọc bài báo dưới đây, không có một hướng đi nào, chỉ toàn ca ngợi thành tích không có trg 8 tháng qua. Những thằng ntn mà NXP nói phải là http://cafef.vn/thu-tuong-bo-khdt-phai-co-tu-duy-kien-truc-su-truong-cua-nen-kinh-te-20170111164441843.chn Thứ 4, 11/01/2017, 18:38

Thủ tướng: Bộ KH&ĐT phải có tư duy ‘kiến trúc sư trưởng của nền kinh tế’
xxx
Dân tộc VN rất bất hạnh để có một KTS trưởng mà ko biết phải đi lối nào, phải đi bằng phương tiện gì, nhanh hay chậm mà cứ khư khư ca ngợi những thành tích không có trg 8 năm nắm CQ.
xx
Trích bài báo dưới đây ngày 17.1.17 :”Năm 2016 là một năm có nhiều ý nghĩa đối với các thành viên Chính phủ mới lần đầu tiên nắm giữ cương vị Bộ trưởng, trong đó có tôi. Mặc dù nền kinh tế gặp phải nhiều khó khăn, thách thức cả ở trong nước và bối cảnh quốc tế không thuận lợi, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã có sự phối hợp tốt với các cơ quan của Chính phủ, tham mưu cho việc chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ phấn đấu hoàn thành phần lớn các mục tiêu, nhiệm vụ kinh tế-xã hội năm 2016, giữ được ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm an sinh xã hội...”(HT)
xx
CXN: Trg khi sự thật là lãi suất tăng, suy thoái bắt đầu từ tháng 6.2016 và đã ngấm sâu, BĐS thì chết tiệt, giá nhà giảm 50%, thất nghiệp tràn lan…

xx

Hãy nghe tiếp :”Với cá nhân tôi, điều để lại ấn tượng nhất có lẽ là Kỳ họp thứ 2 Quốc hội khóa XIV vừa qua. Đối với một Bộ trưởng mới như tôi, việc phải báo cáo, giải trình trước Quốc hội 10 lần trong một kỳ họp là một thách thức không nhỏ. Tôi cảm ơn và đánh giá cao những nỗ lực, cố gắng của đội ngũ cán bộ, công chức toàn ngành kế hoạch, đầu tư và thống kê, đã cùng tôi bảo vệ thành công trước Quốc hội những báo cáo lớn; trong đó Quốc hội đã thông qua Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội 2017; Kế hoạch đầu tư công trung hạn 2016-2020 và năm 2017; Kế hoạch Cơ cấu lại nền kinh tế giai đoạn 2016-2020; Luật sửa đổi, bổ sung Phụ lục 4 Luật Đầu tư về Danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện. Quốc hội cũng đã thảo luận, cho ý kiến rất tích cực về 2 Dự thảo luật là Luật Quy hoạch và Luật hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa để xem xét, thông qua vào kỳ họp sau.“(HT bài báo)

xx
CXN : Lại tự ca ngợi những “thành tích báo cáo”

xx

lại nghe tiếp nữa :”Năm 2016, với số lượng doanh nghiệp trong nước đăng ký tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh tăng ở mức kỷ lục và số dự án của các doanh nghiệp FDI đầu tư vào Việt Nam tăng tới 27%. Điều này cho thấy, cộng đồng doanh nghiệp trong và ngoài nước đã đánh giá cao môi trường kinh doanh của Việt Nam. Vậy, theo Bộ trưởng, Việt Nam cần tiếp tục làm gì để cải thiện môi trường kinh doanh tốt và thuận lợi hơn cho doanh nghiệp?” (HT)

xxx
CXN: NCD thừa biết rằng 70% của những cái gọi là DN mới thành lập chỉ là nhưng hộ KD cá thể bị buộc phải chuyển đổi thành DN và FDI thì tệ hơn năm 2015.
xx
Lại tự ca ngợi những thành tích ko có của CP NXP :”– Bộ trưởng Nguyễn Chí Dũng: Hiện nay, cộng đồng doanh nghiệp đang nhận được nhiều sự quan tâm của cả hệ thống chính trị và của toàn xã hội với mục tiêu là phát triển lực lượng doanh nghiệp mạnh mẽ, xứng đáng là động lực quan trọng của tăng trưởng và phát triển của đất nước.
Thời gian qua, nhờ những nỗ lực, quyết tâm của Chính phủ cũng như của bản thân cộng đồng doanh nghiệp, năng lực cạnh tranh của nền kinh tế cũng như môi trường kinh doanh đã có cải thiện về thứ hạng. Tuy nhiên, vẫn chưa có sự bứt phá nếu xét trong khu vực ASEAN. Chúng ta vẫn đang đứng thứ 5 trong số 10 nước ASEAN, trong khi các nước xếp trên không dừng lại để ta vượt qua và các nước xếp sau lại đang có những cải thiện vượt bậc.
Như tôi đã nói, những khó khăn, thách thức của hội nhập phía trước là không nhỏ; bởi mỗi bước tiến bộ của chúng ta vẫn chưa thể sánh được với những bước tiến dài và nhanh của thế giới. Những khuôn khổ pháp lý mới và các giải pháp của Chính phủ trong việc cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh đã được hình thành và bước đầu phát huy hiệu quả. Không còn cách nào khác là chúng ta phải thực hiện một cách quyết liệt hơn nữa, thiết thực, hiệu quả hơn nữa
.”(HT)

xx

CXN : Còn những bước đi thực tiễn trg tương lai thì hoàn toàn ko có, chỉ có bắn chỉ thiên thôi. Trích :”Chúng tôi cũng hiểu rằng Việt Nam cần thu hẹp nhanh khoảng cách với các nước. Để đạt được điều này, Việt Nam đang theo đuổi định hướng chiến lược với tốc độ phát triển nhanh hơn, bền vững hơn, tận dụng tối đa các nội lực trong quá trình hợp tác mang lại, ứng phó với biến đổi khí hậu một cách hiệu quả, giải quyết tốt các vấn đề về an sinh xã hội. Việt Nam cũng đang nỗ lực cải cách để trở thành vị trí số 1 trong danh sách điểm đến của các nhà đầu tư trong khu vực Đông Nam Á.
Có thể nói, Việt Nam hoàn toàn là một lựa chọn tốt để đầu tư kinh doanh. Chúng tôi mong rằng các doanh nghiệp, nhà đầu tư cần hợp tác chặt chẽ với Chính phủ, với các cơ quan, bộ, ngành, địa phương để cùng xác định những cơ hội đầu tư kinh doanh của mình.
“(HT)

xx

CXN: PV hỏi mớm lời nhưng vì ko có kế hoạch cụ thể nên tay này lại trả lời lòng vòng, bắn chỉ thiên ko mục đích :”- Kế hoạch cơ cấu lại nền kinh tế giai đoạn 2016-2020 cũng vừa được Quốc hội thông qua.Với vai trò và chức năng của mình, Bộ Kế hoạch và Đầu tư sẽ làm gì để thúc đẩy triển khai kế hoạch này trong thời gian tới?
– Bộ trưởng Nguyễn Chí Dũng: Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 24/2016/QH14 về Kế hoạch cơ cấu lại nền kinh tế giai đoạn 2016-2020; trong đó đã đề ra những nhiệm vụ trọng tâm cơ cấu lại nền kinh tế và giao nhiệm vụ cụ thể đối với Chính phủ trong việc chỉ đạo thực hiện quá trình cơ cấu lại nền kinh tế giai đoạn 2016-2020.
xx
Cơ cấu lại nền kinh tế là một nhiệm vụ lớn, quan trọng đòi hỏi phải có thời gian và sự chuẩn bị thực sự cụ thể, kỹ lưỡng, có vậy mới thực hiện thành công. Bên cạnh đó, Kế hoạch cơ cấu lại nền kinh tế là một kế hoạch khung, để thực hiện phải cụ thể hóa bằng các đề án gắn với các nhiệm vụ, mục tiêu của kế hoạch. Căn cứ nhiệm vụ đã nêu trong Nghị quyết thì năm 2017 được coi là năm “mở đường,” đường được mở tốt thì chúng ta mới có thể đi nhanh được.
xx
Nhiệm vụ của năm 2017 là khá nhiều, từ việc rà soát, sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật hiện hành đến xây dựng đề án cụ thể, thiết lập cơ chế thực hiện, theo dõi, giám sát, đánh giá và tuyên truyền… Tất cả các nhiệm vụ này đều rất quan trọng và đều phải được tập trung thực hiện một cách đồng bộ. Tuy nhiên, với ý nghĩa “mở đường” thì nhiệm vụ rà soát, sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật là quan trọng nhất và là điều kiện tiên quyết. Bởi lẽ, cơ cấu lại nền kinh tế chắc chắn sẽ vấp phải một số quy định pháp luật đã không còn phù hợp, phải điều chỉnh hoặc bãi bỏ. Nếu không làm được điều này, chắc chắn quá trình cơ cấu lại nền kinh tế sẽ gặp nhiều trở ngại
.”(HT)

xx

CXN: Một lần nữa, PV hỏi cụ thể là giải pháp nào (eg. như phát triển nông thôn, lúa gạo, dệt may, thủy sản, sản xuất gia dùng, chăn nuôi, sắt thép v.v.. thì tay này hoàn toàn mù tịt, lại quay súng bắn thêm chỉ thiên mà ko biết bắn vào cái gì … Trích :”– Trước những dự báo kinh tế trong năm 2017 sẽ còn nhiều khó khăn và thách thức, xin Bộ trưởng cho biết Việt Nam sẽ tập trung vào những nhiệm vụ, giải pháp nào để đạt được những mục tiêu đã đề ra?
– Bộ trưởng Nguyễn Chí Dũng: Mặc dù, đã đạt được nhiều kết quả quan trọng trong năm 2016, nhưng nền kinh tế đã, đang và phải đối mặt với nhiều thách thức trong quá trình phát triển. Đó là thách thức về sự tụt hậu, thách thức của bẫy thu nhập trung bình, thách thức về môi trường, biến đổi khí hậu và thách thức từ hội nhập quốc tế.
xx
Trong khi đó, bối cảnh quốc tế năm 2017 được cho là rất khó tiên lượng. Những chính sách của chính quyền mới và triển vọng kinh tế Mỹ sẽ có tác động mạnh đến cấu trúc chính trị-kinh tế thế giới, nhất là trong lĩnh vực đầu tư thương mại, tiền tệ; tình hình châu Âu được dự báo có nhiều thay đổi lớn, nhất là khi tiến trình đàm phán về Brexit sẽ được tiến hành dự kiến có nhiều tác động đến các quốc gia thành viên của EU; khu vực châu Á cũng sẽ có nhiều biến động khó lường với sự ảnh hưởng ngày càng mạnh mẽ của nền kinh tế Trung Quốc và đồng nhân dân tệ…
xx
Bối cảnh trong nước cũng đặt ra nhiều thách thức, nhất là trong những năm tiếp theo phải là giai đoạn tăng tốc của nền kinh tế để đạt được mục tiêu phát triển nhanh, bền vững trong trung và dài hạn. Để làm được điều đó, nền kinh tế phải giải quyết được một loạt những vấn đề liên quan đến thể chế thị trường; động lực phát triển; nguồn lực đầu tư; tạo thêm các dư địa về chính sách, nhất là chính sách tài khóa… đồng thời giải quyết được vấn đề trước mắt, nhưng cũng phải đảm bảo được định hướng lâu dài trong các chính sách phát triển, giữ được và thổi bùng ngọn lửa đổi mới. Phải kiên định và thực hiện mục tiêu cơ cấu lại nền kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao được năng suất lao động, chất lượng, hiệu quả và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế
.”(HT)

xx

KẾT LUẬN

xx

Khi nói về những vấn đề này …“Phải kiên định và thực hiện mục tiêu cơ cấu lại nền kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao được năng suất lao động, chất lượng, hiệu quả và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế” thì lại ko có phương án, giải pháp cụ thể như đổi mới mô hình tăng trưởng thành mô hình gì ??? nang7 cao năng suất lao động bằng cách nào ??? nâng cao chất lượng, hiệu quả và năng lực cạnh tranh bằng cách nào thì mù tịt, chỉ hô khẩu hiệu rồi bắn chỉ thiên thôi, vậy mà làm Kiến Trúc Sư trưởng thì bất hạnh cho 93 triệu dân VN quá.
xx
CXN, 20.1.17, Melb

xxx

CXN _011217_11 939_ Công việc của BT KH & ĐT đầu ngành là gì ??? Là chỉ ra khó khăn hay có giải pháp và giải quyết khó khăn của nền KT VN. Tôi nói KT VN bế tắc từ tháng 4.16 khi NXP mới tuyên thệ có đúng hay không vậy ??? Gần 1 năm sau họ mới xác nhận dc là có phải đây là CP giỏi hay không vậy ??? (listing of poor, why we are poor, Gorbachov, advice to PM, power of corruption, cronies, system crumple, the economy is ceasing to operate, bế tắc KT, idiotic PM, 2016-2020 restructuring, the truth came out, lessons learnt, incompetent minister) : Cấp thiết của việc đổi mới kinh tế qua góc nhìn của Bộ trưởng Nguyễn Chí Dũng: Cuộc rượt bắt giữa sư tử và linh dương, không chạy nhanh thì sẽ chết
xxxxxxxxxxxxhttp://cafef.vn/bo-truong-nguyen-chi-dung-2017-duoc-coi-la-nam-mo-duong-20170117095305646.chn
17/01/2017, 10:32
Bộ trưởng Nguyễn Chí Dũng: 2017 được coi là năm “mở đường”

Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Nguyễn Chí Dũng. (Ảnh: Phương Hoa/TTXVN)

Năm 2017 sẽ đặt ra nhiều thách thức đối với nền kinh tế. Để đạt được mục tiêu đề ra, nền kinh tế cần đảm bảo được định hướng lâu dài trong các chính sách đồng thời phải kiên định và thực hiện mục tiêu cơ cấu lại, đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao được năng suất lao động, chất lượng, hiệu quả và năng lực cạnh tranh.

Để tìm hiểu rõ hơn, phóng viên TTXVN đã có cuộc trao đổi với Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Nguyễn Chí Dũng xung quanh nội dung này.

– Nhìn lại kinh tế 1 năm qua và chặng đường 8 tháng trên cương vị Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư, những chỉ đạo, điều hành nào để lại cho Bộ trưởng ấn tượng nhất?

– Bộ trưởng Nguyễn Chí Dũng: Năm 2016 là một năm có nhiều ý nghĩa đối với các thành viên Chính phủ mới lần đầu tiên nắm giữ cương vị Bộ trưởng, trong đó có tôi. Mặc dù nền kinh tế gặp phải nhiều khó khăn, thách thức cả ở trong nước và bối cảnh quốc tế không thuận lợi, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã có sự phối hợp tốt với các cơ quan của Chính phủ, tham mưu cho việc chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ phấn đấu hoàn thành phần lớn các mục tiêu, nhiệm vụ kinh tế-xã hội năm 2016, giữ được ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm an sinh xã hội…

xxx

One comment on “CXN _012017_11 966_ Càng ngày càng thấy ngạc nhiên với những thằng bất tài, vô tướng làm Bộ Trưởng của CP NXP này. Mở đường rồi thì đi bằng phương tiện nào, đi lối nào ??? Đi nhanh hay chậm ??? Tại sao cứ đứng đó mà ca ngợi đã mở đường, ca ngợi thành tích 8 tháng rồi mà trg 8 tháng đó điếu làm dc gì cả cho đất nước, cho suy thoái này ??? (power of corruption, cronies, system crumple, the economy is ceasing to operate, bế tắc KT, idiotic PM, 2016-2020 restructuring, the truth came out, looming recession, where do we go from here, incompetent minister) : Bộ trưởng Nguyễn Chí Dũng: 2017 được coi là năm “mở đường””

  1. Nina
    20.01.2017 @ 1:01 PM Edit
    2017 được coi là năm “mở đường-Xuống Hang Còn Ngu(XHCN)”- Là lời vàng..vọt của BT NCDũng

xxxxxxx x xxx xx

http://cafef.vn/bo-truong-nguyen-chi-dung-chung-toi-da-quyet-tam-tu-bo-loi-ich-rieng-de-giai-phong-nguon-luc-quoc-gia-20190116095709921.chn

Bộ trưởng Nguyễn Chí Dũng: Chúng tôi đã quyết tâm từ bỏ lợi ích riêng để giải phóng nguồn lực quốc gia!
16-01-2019

Bộ trưởng Nguyễn Chí Dũng: Chúng tôi đã quyết tâm từ bỏ lợi ích riêng để giải phóng nguồn lực quốc gia!

Bộ trưởng Nguyễn Chí Dũng. Ảnh: Tuấn Mark

Người đứng đầu ngành Kế hoạch cho biết điểm đáng chú ý nhất trong năm 2018 là Bộ đã tham mưu tư tưởng, chính sách tiến bộ, cơ chế vượt trội trong dự án Luật Đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt, hay thường được biết đến với tên Luật Đặc khu. Mặt khác, việc tham gia xây dựng Luật Quy hoạch, Luật Đối tác công tư… được xem là sự từ bỏ lớn.

Phát biểu tại Hội nghị trực tuyến tổng kết của Bộ Kế hoạch Đầu tư sáng 16/1, Bộ trưởng Nguyễn Chí Dũng nhận định nền kinh tế trong năm 2018 đã phát triển một tích cực, từng bước củng cố năng lực nội tại, khả năng chống chịu của nền kinh tế trước sự thay đổi của thế giới.

xxxxxxx x xxx xx
http://toquoc.vn/nghi-quyet-cua-bo-chinh-tri-ve-nang-cao-hieu-qua-cac-nguon-luc-cua-nen-kinh-te-20190117141114197.htm

Nghị quyết của Bộ Chính trị về nâng cao hiệu quả các nguồn lực của nền kinh tế

Thời sự 17/01/2019

Ngày 15/1, thay mặt Bộ Chính trị, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã ký ban hành Nghị quyết Số 39-NQ/TW về nâng cao hiệu quả quản lý, khai thác, sử dụng và phát huy các nguồn lực của nền kinh tế. Báo Điện tử Tổ Quốc trân trọng giới thiệu toàn văn Nghị quyết.

I- TÌNH HÌNH VÀ NGUYÊN NHÂN

Thời gian qua, việc quản lý, khai thác, sử dụng và phát huy các nguồn lực của nền kinh tế bao gồm: Nhân lực, vật lực và tài lực đã có đóng góp quan trọng vào sự nghiệp đổi mới, phát triển và hội nhập của đất nước. Nguồn nhân lực dồi dào; con người Việt Nam có tinh thần yêu nước, cần cù, sáng tạo; trình độ dân trí và chất lượng nguồn nhân lực từng bước được nâng lên đã đáp ứng cơ bản nhu cầu của thị trường lao động. Lực lượng lao động có sự chuyển dịch nhanh từ khu vực nông nghiệp sang các ngành công nghiệp và dịch vụ. Nguồn lực tài nguyên thiên nhiên phong phú, đa dạng, có nhiều tiềm năng để khai thác, sử dụng; cơ sở vật chất và hạ tầng kinh tế – xã hội phát triển mạnh cả về số lượng và chất lượng, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, phát triển văn hoá, xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh nâng cao đời sống nhân dân. Việc quản lý, khai thác và sử dụng có hiệu quả nguồn lực tài chính, tiền tệ đã góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, thúc đẩy sản xuất kinh doanh, duy trì tăng trưởng kinh tế.

Tuy nhiên, việc quản lý, khai thác, sử dụng, phát huy các nguồn lực hiện còn hạn chế, bất cập; việc phân bổ và sử dụng các nguồn lực chưa hợp lý, hiệu quả chưa cao, nhiều trường hợp chưa theo cơ chế thị trường, gây lãng phí và làm cạn kiệt nguồn lực của đất nước. Chất lượng nguồn nhân lực nhìn chung còn thấp, cơ cấu lao động theo trình độ đào tạo còn bất hợp lý, thiếu hụt nhân lực là kỹ sư thực hành, công nhân kỹ thuật bậc cao, trình độ ngoại ngữ hạn chế, thiếu các kỹ năng mềm. Kết nối cung – cầu trên thị trường lao động còn nhiều bất cập. Tình trạng thất nghiệp ở nhóm lao động trẻ hoặc không phù hợp giữa công việc và trình độ đào tạo còn khá phổ biến. Chất lượng việc làm thấp, việc làm phi chính thức chiếm tỉ trọng cao. Năng suất lao động thấp so với các nước trong khu vực. Việc quản lý, khai thác và sử dụng tài nguyên thiên nhiên chưa hiệu quả. Diện tích đất sử dụng kém hiệu quả hoặc chưa sử dụng còn lớn; nhiều địa phương buông lỏng quản lý dẫn đến tình trạng đất bị hoang hoá, bị lấn chiếm, tự ý chuyển đổi mục đích sử dụng, gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp và gây thất thu ngân sách nhà nước. Năng lực khai thác tài nguyên khoáng sảncòn nhiều hạn chế, công nghệ chậm được đổi mới. Việc phối hợp giữa các chủ thể quản lý tài nguyên khoáng sản chưa tốt, còn hiện tượng cát cứ và thiếu đồng bộ, liên thông giữa các vùng, miền, địa phương, làm giảm hiệu quả khai thác tài nguyên. Tình trạng khai thác tài nguyên khoáng sản, nguồn nước ngầm quá mức gây lãng phí và huỷ hoại môi trường còn xảy ra ở nhiều nơi. Thị trường tài nguyên khoáng sản chậm được hình thành, phát triển thiếu đồng bộ. Quan điểm đẩy mạnh kinh tế hoá ngành tài nguyên, môi trường chậm được triển khai, thể chế hoá và tổ chức thực hiện. Cơ sở vật chất và kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội còn lạc hậu, thiếu đồng bộ, chưa đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Đầu tư vào kết cấu hạ tầng còn dựa nhiều vào ngân sách nhà nước; hoạt động xã hội hoá, thu hút các thành phần kinh tế khác tham gia đầu tư kết cấu hạ tầng còn nhiều hạn chế. Khung khổ pháp lý còn thiếu, chưa đồng bộ; việc quản lý, khai thác và sử dụng cơ sở hạ tầng còn bất cập. Hiệu quả sử dụng nguồn lực tài chính, tiền tệ chưa cao: Cân đối chi chưa gắn kết chặt chẽ với khả năng thu từ nền kinh tế; việc phân bổ các nguồn lực còn dàn trải, lãng phí; ứng chi và nợ đọng xây dựng cơ bản còn lớn; bội chi ngân sách ở mức cao, nguồn lực dự trữ quốc gia còn hạn chế. Quản lý, sử dụng tài sản công còn kém hiệu quả, lãng phí, thất thoát. Nợ xấu tuy đã được xử lý một bước quan trọng nhưng vẫn tiềm ẩn rủi ro đối với an toàn, hiệu quả hoạt động của hệ thống ngân hàng. Việc dự báo, cân đối và quản lý quỹ bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội chưa tốt.

Nguyên nhân chủ yếu của những hạn chế trên là do chưa phát huy được sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị trong công tác quản lý, khai thác, sử dụng các nguồn lực của nền kinh tế. Việc ban hành và tổ chức thực hiện một số cơ chế, chính sách, pháp luật còn bất cập, thiếu đồng bộ, chưa theo kịp diễn biến thực tiễn và yêu cầu phát triển. Công tác phối hợp giữa các bộ, ngành Trung ương và địa phương nhiều trường hợp còn thiếu chặt chẽ, kém hiệu quả. Việc kiểm tra, giám sát, quản lý các nguồn lực chưa được quan tâm, chú trọng đúng mức, thiếu tính chuyên nghiệp. Công tác kiểm kê, đánh giá thực chất tình hình các nguồn lực của nền kinh tế chưa được tổ chức thường xuyên, định kỳ.

1. Quan điểm chỉ đạo

– Quản lý, khai thác, huy động, phân bổ, sử dụng và phát huy có hiệu quả các nguồn lực của nền kinh tế cho phát triển đất nước là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và mọi tầng lớp nhân dân.

– Nâng cao hiệu quả quản lý, khai thác, sử dụng và phát huy các nguồn lực của nền kinh tế là yêu cầu cấp bách trong tình hình hiện nay để khắc phục các tồn tại, yếu kém của nền kinh tế, thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội đất nước theo các mục tiêu Đại hội Đảng lần thứ XII đề ra.

– Đa dạng hoá các hình thức huy động và sử dụng nguồn lực; thúc đẩy xã hội hoá, thu hút mạnh mẽ các nguồn lực đầu tư ngoài nhà nước; áp dụng nguyên tắc thị trường trong quản lý, khai thác, sử dụng các nguồn lực cho phát triển. Đẩy mạnh kinh tế hoá nguồn vật lực, trong đó tập trung vào nguồn lực tài nguyên thiên nhiên. Tập trung khai thác tối đa tiềm năng khoa học và công nghệ cho phát triển kinh tế – xã hội.

– Kiểm kê, đánh giá đầy đủ, thực chất các nguồn lực của nền kinh tế là cơ sở quan trọng để xây dựng chiến lược phát triển kinh tế – xã hội đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 và các quy hoạch, kế hoạch phát triển trung hạn, dài hạn trong từng thời kỳ. Tất cả các nguồn lực của nền kinh tế phải được kiểm kê đánh giá, thống kê, hạch toán đầy đủ, đúng đắn trong nền kinh tế; được quản lý, bảo vệ, khai thác, sử dụng tiết kiệm, hợp lý, phát huy tối đa hiệu quả và phát triển bền vững.

– Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý, giám sát, kiểm tra, kiểm soát đối với việc khai thác, huy động, phân bổ và sử dụng các nguồn lực, không để xảy ra thất thoát, lãng phí, cạn kiệt nguồn lực của đất nước và huỷ hoại môi trường.

2. Mục tiêu

2.1. Mục tiêu tổng quát

Nâng cao hiệu quả quản lý, khai thác, huy động, phân bổ, sử dụng các nguồn lực của nền kinh tế nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội nhanh và bền vững, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, cải thiện đời sống nhân dân, bảo đảm quốc phòng, an ninh, sớm đưa nước ta trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại, tiến tới trở thành nước công nghiệp hiện đại theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

2.2. Mục tiêu cụ thể

a) Đối với nguồn nhân lực

Đến năm 2025: Tỉ trọng lao động làm việc trong khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản dưới 33% tổng số lao động của cả nước. Khắc phục cơ bản tình trạng mất cân đối cung – cầu nhân lực trong nền kinh tế; thiết lập hệ thống sắp xếp công việc dựa trên vị trí việc làm, củng cố hệ thống chức nghiệp thực tài.

Đến năm 2035: Tỉ trọng lao động làm việc trong khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản dưới 25% tổng số lao động của cả nước. Chỉ số phát triển con người (HDI) đạt mức cao trên thế giới (giá trị từ 0,700 – 0,799). Phát triển năng lực đổi mới sáng tạo, có đội ngũ nhân lực khoa học, công nghệ, chuyên gia đầu ngành tương đương trình độ của các nước tiên tiến trong khu vực.

Đến năm 2045: Tỉ trọng lao động làm việc trong khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản dưới 15% tổng số lao động của cả nước. Chỉ số phát triển con người (HDI) đạt mức cao trên thế giới (giá trị từ 0,800 trở lên). Năng suất lao động và năng lực cạnh tranh của nhân lực Việt Nam đạt mức trung bình các nước ASEAN-4.

b) Đối với nguồn vật lực

– Đến năm 2025

+ Hoàn thiện đồng bộ hệ thống luật pháp, cơ chế, chính sách, công cụ thúc đẩy quản lý, sử dụng tiết kiệm và hiệu quả tài nguyên thiên nhiên. Thăm dò, khai thác, chế biến, sử dụng khoáng sản phù hợp với thực tế quy mô và hiệu quả đầu tư. Xây dựng mới và duy trì vận hành mạng lưới trạm quan trắc tài nguyên môi trường hiện có.

+ Hình thành hệ thống cơ sở vật chất và hạ tầng kinh tế – xã hội tương đối đồng bộ, hiện đại. Hoàn thành dứt điểm các công trình có tính chất cấp bách, trọng tâm, trọng điểm, tạo động lực phát triển kinh tế – xã hội, nâng cấp hạ tầng kết nối giữa các vùng, miền trong cả nước và kết cấu hạ tầng đô thị.

Đến năm 2035

+ Phát triển các công cụ điều tiết thị trường quyền sử dụng đất, bảo đảm khoảng 99% diện tích đất tự nhiên được đưa vào khai thác, sử dụng. Kiểm soát tình hình ô nhiễm nguồn nước; phục hồi 25% diện tích hệ sinh thái tự nhiên bị suy thoái. Hoàn thiện hệ thống mạng quan trắc tài nguyên, môi trường quốc gia theo hướng tự động hoá. Hoàn thành việc xây dựng đồng bộ cơ sở dữ liệu ngành tài nguyên, môi trường và hệ thống thông tin giám sát tài nguyên quốc gia.

+ Bảo đảm hệ thống cơ sở vật chất và hạ tầng kinh tế – xã hội đồng bộ, hiện đại, kết nối thuận tiện, nhanh chóng đến các vùng, miền trong cả nước, khu vực và với quốc tế.

Đến năm 2045

+ Chủ động ngăn ngừa, hạn chế tình trạng suy thoái tài nguyên, ô nhiễm môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu, nước biển dâng. Bảo tồn và sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên.

+ Hoàn thiện cơ sở vật chất và kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại, kết nối thông suốt trong nước với quốc tế, ngang bằng với các nước phát triển.

c) Đối với nguồn tài lực

Đến năm 2025

+ Giữ vững an ninh tài chính quốc gia; bảo đảm cân đối ngân sách tích cực, giảm dần tỉ lệ bội chi ngân sách nhà nước, đến năm 2020 xuống dưới 4% GDP, đến năm 2030 xuống khoảng 3% GDP, hướng tới cân bằng thu – chi ngân sách nhà nước. Đến năm 2030, nợ công không quá 60% GDP, nợ chính phủ không quá 50% GDP, nợ nước ngoài của quốc gia không quá 45% GDP.

+ Đến năm 2020 cơ bản hoàn thành và đến năm 2025 hoàn thành việc sắp xếp lại, xử lý nhà đất thuộc sở hữu nhà nước trên phạm vi cả nước; hoàn thành di dời các cơ sở gây ô nhiễm môi trường, cơ sở phải di dời theo quy hoạch đã được phê duyệt.

+ Đến năm 2025 mức dự trữ quốc gia đạt 0,8% – 1,0% GDP. Dư nợ thị trường trái phiếu đạt 55% GDP.

Đến năm 2035

+ Mức dự trữ quốc gia đạt 1,5% GDP. Dư nợ thị trường trái phiếu đạt 70% GDP. Nguồn vốn huy động cho nền kinh tế của các doanh nghiệp bảo hiểm chiếm 20% – 30% tổng nguồn vốn đầu tư dài hạn.

+ Thu ngân sách nhà nước về đất đai đạt 10%, thu từ khai thác tài sản công đạt 5% tổng thu ngân sách nhà nước hằng năm.

Đến năm 2045

+ Mức dự trữ quốc gia đạt 2% GDP. Dư nợ thị trường trái phiếu đạt 80% GDP. Nguồn vốn huy động cho nền kinh tế của các doanh nghiệp bảo hiểm chiếm 30% – 50% tổng nguồn vốn đầu tư dài hạn.

+ Giữ ổn định thu ngân sách nhà nước về đất đai đạt 10%, thu từ khai thác tài sản công đạt 5% – 7% tổng thu ngân sách nhà nước.

III- NHIỆM VỤ, GIẢI PHÁP CHỦ YẾU

1. Nhiệm vụ, giải pháp chung

1.1. Sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện luật pháp, cơ chế, chính sách để khơi thông, giải phóng tối đa và nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực hiện có, phù hợp với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; thực hiện công khai, minh bạch trong quản lý, khai thác và sử dụng các nguồn lực của đất nước.

1.2. Đổi mới mô hình tăng trưởng chuyển từ chủ yếu dựa vào khai thác tài nguyên, vốn đầu tư và lao động sang sử dụng tổng hợp, có hiệu quả các nguồn lực của nền kinh tế; nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, có năng lực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo. Tập trung thực hiện đồng bộ các giải pháp nâng cao năng suất lao động, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh và phát triển bền vững của nền kinh tế.

1.3. Cơ cấu lại nền kinh tế, ngành, vùng và sản phẩm chủ yếu theo hướng hiện đại, phát huy lợi thế so sánh và tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu. Tập trung các nguồn lực phát triển những sản phẩm có lợi thế so sánh, sức cạnh tranh, giá trị gia tăng cao và có thị trường tiêu thụ. Đổi mới cơ cấu thành phần kinh tế theo hướng bảo đảm cạnh tranh công bằng, bình đẳng, tôn trọng tính phổ biến hơn là nhấn mạnh tính đặc thù; định vị vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước tập trung vào định hướng, dẫn dắt và thực hiện những dịch vụ công, đầu tư các dự án trọng điểm quốc gia mà các thành phần kinh tế khác không đủ năng lực hoặc không có nhu cầu đầu tư.

1.4. Nâng cao năng lực kiến tạo, quản trị quốc gia và năng lực tự chủ, đổi mới sáng tạo của các doanh nghiệp. Đổi mới và nâng cao chất lượng công tác xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội trên cơ sở tăng cường năng lực phân tích, đánh giá, dự báo trên các lĩnh vực. Thực hiện công khai, minh bạch, bình đẳng và dân chủ hoá đời sống kinh tế – xã hội. Kiểm soát tốt quyền lực, đề cao trách nhiệm giải trình và đạo đức công vụ. Xây dựng và thực thi nghiêm các chế tài đủ mạnh nhằm ngăn chặn hành vi cửa quyền, độc quyền; cơ chế xin – cho; lợi ích nhóm; đẩy lùi tham nhũng, góp phần củng cố lòng tin của các nhà đầu tư, doanh nghiệp và toàn xã hội.

1.5. Chủ động nắm bắt cơ hội, tận dụng tối đa thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ 4 để phát triển kinh tế – xã hội đất nước. Trước mắt cần nghiên cứu thấu đáo nội hàm, phương thức vận hành và tác động của Cách mạng công nghiệp lần thứ 4; định hướng nhiệm vụ, giải pháp thực hiện cụ thể vào một số ngành, lĩnh vực, địa bàn để chủ động hội nhập và hoà chung vào dòng chảy của cuộc cách mạng công nghiệp này.

1.6. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, chia sẻ thông tin về các nguồn lực trong nền kinh tế để sử dụng tối ưu và hiệu quả; phân phối, chia sẻ và tái sử dụng có hiệu quả các nguồn lực dư thừa, làm gia tăng giá trị các nguồn lực của nền kinh tế.

2. Nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu đối với từng nguồn lực

2.1. Đối với nguồn nhân lực

a) Nâng cao nhận thức, hoàn thiện thể chế về phát triển, quản lý, khai thác, sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực Việt Nam

– Tuyên truyền sâu rộng, nâng cao nhận thức, thực hiện tốt chủ trương coi giáo dục – đào tạo và khoa học – công nghệ là quốc sách hàng đầu. Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục – đào tạo theo hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá, dân chủ hoá, hội nhập quốc tế, phát triển giáo dục – đào tạo gắn với phát triển khoa học và công nghệ.

– Tập trung nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đẩy mạnh đào tạo theo nhu cầu thị trường lao động. Triệt để khắc phục “bệnh thành tích” và những tiêu cực trong giáo dục, đào tạo; khắc phục tâm lý và hiện tượng quá coi trọng và đề cao “Bằng cấp”, “Chứng chỉ” một cách hình thức trong tuyển dụng và đánh giá nhân lực.

– Hoàn thiện luật pháp, cơ chế, chính sách về phát triển, quản lý và sử dụng nguồn nhân lực, nhất là luật pháp về lao động tiền lương, giáo dục – đào tạo, bảo hiểm xã hội…

– Đổi mới công tác quản lý và phương thức hoạt động của các đoàn thể, các tổ chức quần chúng, xã hội, nghề nghiệp… trong phát triển nguồn nhân lực. Phát triển mạnh hệ thống thông tin đại chúng, mở rộng cơ hội và tăng cường năng lực cho người dân tiếp cận thông tin, thụ hưởng các dịch vụ văn hoá, vui chơi giải trí, có cuộc sống tinh thần lành mạnh nhằm nhanh chóng tái tạo, phát triển năng lực làm việc và khả năng sáng tạo của mỗi người.

b) Đổi mới công tác quản lý, sử dụng, đánh giá và đào tạo nguồn nhân lực

– Đổi mới căn bản và toàn diện chính sách về đánh giá, sử dụng nhân lực trong khu vực nhà nước. Cải thiện điều kiện, môi trường lao động để tạo động lực, khuyến khích lao động hiệu quả, sáng tạo. Khẩn trương xây dựng hệ thống chỉ tiêu đánh giá cán bộ, công chức, viên chức, thực hiện trả lương theo vị trí việc làm, gắn với kết quả hoạt động công vụ và hiệu suất làm việc.

– Đổi mới công tác đào tạo, sử dụng cán bộ, công chức, viên chức và chế độ tiền lương đối với các đơn vị hành chính công dựa trên nguyên tắc thị trường, bảo đảm cán bộ, công chức đủ sống bằng lương và từng bước có tích luỹ. Đẩy mạnh quá trình trao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các đơn vị, tổ chức sự nghiệp công lập trong quản lý, sử dụng nhân lực.

– Xây dựng tiêu chuẩn, quy trình đánh giá nhân lực dựa trên năng lực đóng góp, kết quả, năng suất lao động thực tế, thực hiện chế độ đãi ngộ tương xứng với trình độ, năng lực và kết quả công việc. Thực hiện giám sát xã hội, bảo đảm vai trò giám sát của cộng đồng, phát huy vai trò của các đoàn thể, tổ chức xã hội trong việc giám sát chất lượng đào tạo nhân lực. Tổ chức lại hệ thống cấp bậc đào tạo theo chuẩn mực quốc tế.

– Quy hoạch lại mạng lưới các trường đại học, cao đẳng, trường, cơ sở dạy nghề bảo đảm phù hợp yêu cầu phát triển và điều kiện từng vùng, miền trên cả nước. Hình thành các trường dạy nghề chất lượng cao đạt đẳng cấp quốc tế và khu vực. Phát triển mạng lưới cơ sở dạy nghề theo hướng xã hội hoá. Gắn đào tạo nghề với phát triển các ngành, lĩnh vực, đẩy mạnh đào tạo theo nhu cầu, mục tiêu của doanh nghiệp.

– Phát hiện, bồi dưỡng, trọng dụng và sử dụng có hiệu quả “nhân tài”, tập trung thu hút “người tài từ nước ngoài”. Nhà nước tiếp tục đầu tư, hiện đại hoá, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của các cơ sở giáo dục năng khiếu trong giáo dục phổ thông. Khuyến khích các tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài đầu tư, đóng góp về tài chính, nhân lực, vật lực xây dựng và phát triển hệ thống giáo dục năng khiếu.

c) Hoàn thiện thể chế phát triển thị trường lao động hoạt động hiệu quả

– Thực hiện cải cách chính sách tiền lương; tăng cường cơ chế thoả thuận về tiền lương; thực hiện trả lương đúng với giá trị sức lao động để tiền lương trở thành động lực thúc đẩy tăng năng suất lao động, động viên người lao động cống hiến và phát huy khả năng sáng tạo.

– Đầu tư nâng cao năng lực, đổi mới nội dung công tác hướng nghiệp theo yêu cầu của thị trường lao động. Tăng cường định hướng nghề nghiệp cho học sinh, sinh viên trong các trường đại học, cao đẳng và dạy nghề.

– Xây dựng mạng lưới và khuyến khích phát triển các trung tâm dịch vụ việc làm, tổ chức thị trường lao động thường xuyên, công khai, minh bạch; kết nối hệ thống các sàn giao dịch, giới thiệu việc làm và các điểm giao dịch việc làm trên cả nước. Phát triển hệ thống thông tin thị trường lao động, thông tin cung – cầu nhân lực, việc làm quốc gia.

2.2. Đối với nguồn vật lực

a) Đối với nguồn lực tài nguyên thiên nhiên

– Hoàn thiện hệ thống luật pháp thúc đẩy xây dựng hạ tầng dữ liệu không gian địa lý quốc gia phù hợp với chuẩn mực quốc tế. Xây dựng cơ chế, chính sách, giải pháp cụ thể hoá quan điểm kinh tế hoá tài nguyên khoáng sản.

– Chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, sản phẩm phù hợp với lợi thế và nhu cầu thị trường, thích ứng với biến đổi khí hậu. Đa dạng hoá nguồn lực phòng, chống thiên tai, chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, nước biển dâng.

– Sửa đổi, hoàn thiện luật pháp, cơ chế, chính sách tạo khung khổ pháp lý điều chỉnh hạn điền, thực hiện tích tụ tập trung ruộng đất để cơ cấu lại ngành nông nghiệp, phát triển các vùng thâm canh, chuyên canh nông nghiệp quy mô lớn, công nghệ cao; phát triển các khu kinh tế, khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao. Rà soát diện tích đất và tình hình đất đã giao cho các chủ sử dụng, nhất là các doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp có vốn nhà nước quy mô lớn. Xử lý triệt để bất cập trong quản lý, sử dụng đất của các công ty nông, lâm nghiệp, nhất là tình trạng lấn chiếm, chuyển nhượng, chuyển mục đích, cho thuê, cho mượn, giao khoán trái pháp luật.

– Tiếp tục nâng cao tỉ lệ che phủ rừng và chất lượng rừng. Triển khai quyết liệt các giải pháp ngăn chặn tình trạng cháy rừng và chặt phá rừng. Đẩy mạnh giao đất, giao rừng, nâng cao thu nhập và đời sống người làm lâm nghiệp. Thống nhất thiết lập và quản lý có hiệu quả hệ thống khu bảo tồn thiên nhiên.

– Xây dựng chiến lược phát triển tổng hợp kinh tế biển; phát triển bền vững kinh tế biển trên nền tảng tăng trưởng xanh, bảo tồn đa dạng sinh học và các hệ sinh thái biển. Gắn kinh tế biển với bảo vệ chủ quyền quốc gia, bảo vệ tài nguyên môi trường biển, hải đảo.

– Điều tra, đánh giá đầy đủ tiềm năng, trữ lượng tài nguyên khoáng sản; áp dụng phương pháp tiên tiến trong quản trị tài nguyên khoáng sản. Tăng cường kiểm tra, giám sát hoạt động khai thác, chế biến, xuất khẩu khoáng sản và quản lý môi trường, tiến tới đấu thầu quyền khai thác mỏ, hoạt động khai thác và một số hoạt động phụ trợ khai thác mỏ. Xử lý nghiêm việc khai thác tài nguyên không phép, trái phép.

– Đẩy mạnh công tác thăm dò, đánh giá tiềm năng nước mặt và nước ngầm. Rà soát, điều chỉnh quy hoạch ngành cấp nước có tính tới tác động của biến đổi khí hậu và nước biển dâng. Triển khai thực hiện các giải pháp lưu giữ và sử dụng tiết kiệm các nguồn nước. Ngăn chặn kịp thời, xử lý nghiêm hành vi gây ô nhiễm nguồn nước. Điều tra và lập cơ sở dữ liệu về đa dạng sinh học quốc gia. Tăng cường năng lực dự báo thiên tai, biến đổi khí hậu để chủ động phòng, chống và giảm thiểu thiệt hại.

b) Đối với nguồn lực cơ sở vật chất và hạ tầng kinh tế – xã hội

– Hoàn thiện luật pháp, cơ chế, chính sách huy động nguồn lực từ các thành phần kinh tế, các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài tham gia đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng theo hướng công khai, minh bạch, bảo đảm hài hoà lợi ích của Nhà nước, nhà đầu tư và xã hội, coi đây là giải pháp đột phá để thực hiện các mục tiêu bảo đảm hoàn thiện cơ sở vật chất và hạ tầng phục vụ phát triển kinh tế – xã hội.

– Sử dụng có hiệu quả nguồn vốn đầu tư công thông qua xây dựng, thực hiện tốt kế hoạch đầu tư phát triển trung hạn, dài hạn. Ưu tiên đầu tư các công trình có tính cấp bách, trọng tâm, trọng điểm, các công trình kết cấu hạ tầng bảo đảm tính đồng bộ, tính kết nối nhằm phát huy hiệu quả đầu tư, tạo động lực phát triển kinh tế – xã hội. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra nhằm bảo đảm việc huy động, sử dụng nguồn vốn đầu tư công đúng mục đích, hiệu quả, xử lý nghiêm các vi phạm gây tổn thất, lãng phí.

– Rà soát tiến độ thực hiện các dự án đầu tư, kiên quyết chấm dứt đầu tư đối với các dự án kém hiệu quả, thiếu tính khả thi để tập trung đầu tư cho các công trình và dự án cấp bách khác.

– Nâng cao chất lượng công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực đầu tư xây dựng cơ bản; nâng cao hiệu quả phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong triển khai thực hiện dự án đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng, đặc biệt đối với các vấn đề liên quan đến bảo đảm quốc phòng, an ninh, an toàn xã hội và môi trường. Làm rõ vai trò, trách nhiệm của các ngành chức năng, nhất là người đứng đầu trong xây dựng, quản lý thực hiện quy hoạch, kế hoạch, chương trình, dự án đầu tư.

– Hoàn thiện cơ chế phân cấp đầu tư, phân bổ nguồn vốn, phát huy tính chủ động, sáng tạo, đề cao trách nhiệm và có chế tài mạnh đối với cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương, nhất là người đứng đầu trong các quyết định đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng, bảo đảm quản lý thống nhất.

– Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, phương pháp quản lý hiện đại trong tổ chức xây dựng, quản lý, khai thác và sử dụng nguồn lực cơ sở vật chất và hạ tầng kinh tế – xã hội.

2.3. Đối với nguồn tài lực

– Thực hiện nghiêm Luật Ngân sách nhà nước, tăng cường kỷ luật tài chính – ngân sách nhà nước ở tất cả các cấp, các ngành. Nuôi dưỡng nguồn thu ngân sách nhà nước, bảo đảm thu đúng, thu đủ, thu kịp thời, tập trung chống thất thu, chuyển giá và nợ đọng thuế. Giám sát chặt chẽ các khoản chi từ ngân sách nhà nước, bảo đảm triệt để tiết kiệm, chống lãng phí, tăng nguồn thu sự nghiệp; không ban hành các chính sách, chế độ, chương trình, đề án khi không cân đối được nguồn; kiểm soát chặt chẽ việc ứng trước dự toán, chi chuyển nguồn, chi từ nguồn dự phòng ngân sách nhà nước.

– Thực hiện chính sách tài khoá chặt chẽ, phối hợp đồng bộ với chính sách tiền tệ. Phấn đấu từng bước giảm tỉ lệ bội chi ngân sách nhà nước, tiến tới cân bằng thu – chi. Giảm các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách nhà nước để tập trung nguồn lực cho phát triển. Kiểm soát và quản lý nợ công trong giới hạn cho phép, đẩy mạnh cơ cấu lại nợ công, kiểm soát chặt chẽ các nghĩa vụ nợ tiềm ẩn; hoàn thiện luật pháp, chính sách quản lý nợ công phù hợp với tình hình thực tiễn trong nước và thông lệ quốc tế. Nâng cao hiệu quả sử dụng nợ công, gắn trách nhiệm phân bổ, sử dụng vốn vay với trách nhiệm giải trình, cân đối nghĩa vụ trả nợ; tập trung phát triển thị trường vốn trong nước theo hướng đa dạng hoá công cụ nợ và nhà đầu tư, thu hút các nhà đầu tư nước ngoài.

– Rà soát, hoàn thiện và thực hiện các giải pháp đồng bộ, thiết thực, hiệu quả để tăng dự trữ quốc gia và các nguồn lực tài chính khác cho phát triển kinh tế – xã hội của đất nước như: Kiều hối, Quỹ bảo hiểm xã hội và các quỹ ngoài ngân sách nhà nước khác. Có giải pháp phù hợp khuyến khích huy động và sử dụng có hiệu quả nguồn lực vàng và ngoại tệ trong dân cư cho đầu tư phát triển kinh tế – xã hội. Phát triển mạnh mẽ công nghệ tài chính và kinh tế số.

– Điều hành chủ động, linh hoạt, hiệu quả chính sách tiền tệ, phối hợp có hiệu quả với chính sách tài khoá và các chính sách khác để kiểm soát lạm phát, bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô và các cân đối lớn của nền kinh tế. Điều hành lãi suất, tỉ giá linh hoạt, phù hợp với diễn biến kinh tế vĩ mô, lạm phát và thị trường tiền tệ. Triển khai đồng bộ các giải pháp quản lý thị trường vàng, quản lý giao dịch vãng lai và sử dụng ngoại tệ hợp lý. Phát triển thị trường tiền tệ ổn định, minh bạch, phù hợp với định hướng phát triển thị trường tài chính.

– Triển khai thực hiện có hiệu quả nghị quyết của Quốc hội, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Các tổ chức tín dụng và Đề án cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng gắn với xử lý nợ xấu giai đoạn 2016 – 2020; tập trung xử lý, cơ cấu lại tổ chức tín dụng yếu kém và xử lý nợ xấu; nâng cao năng lực tài chính và chất lượng tín dụng, chuyển đổi mô hình kinh doanh, quản trị, điều hành của tổ chức tín dụng; tăng cường, đổi mới công tác thanh tra, giám sát ngân hàng; bảo đảm an toàn hệ thống.

– Hoàn thiện thể chế phát triển thị trường chứng khoán; xây dựng Luật Chứng khoán sửa đổi và các văn bản hướng dẫn thực hiện nhằm phát triển đồng bộ thị trường vốn, thị trường chứng khoán thành kênh huy động vốn trung và dài hạn cho đầu tư phát triển. Chuẩn bị cơ sở hạ tầng, hệ thống công nghệ; phát triển đầy đủ, đồng bộ thị trường chứng khoán phái sinh, cổ phiếu, trái phiếu, tạo điều kiện cho việc thực hiện các giao dịch nợ trên thị trường chứng khoán và chuyển đổi các khoản nợ xấu thành chứng khoán để giao dịch công khai, minh bạch vào thời điểm thích hợp. Tăng cường công tác quản lý nhà nước về chứng khoán và thị trường chứng khoán.

– Hoàn thiện các quy định pháp luật về lĩnh vực bảo hiểm. Khuyến khích các doanh nghiệp bảo hiểm đầu tư trở lại nền kinh tế. Nâng cao năng lực quản lý, giám sát của cơ quan quản lý nhà nước về bảo hiểm; thực hiện hiệu quả các cam kết hội nhập kinh tế quốc tế trong lĩnh vực bảo hiểm.

– Giám sát chặt chẽ việc sử dụng nguồn thu từ cổ phần hoá, thoái vốn nhà nước tại doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp có vốn nhà nước, bảo đảm đúng quy định, hiệu quả.

– Xây dựng các văn bản hướng dẫn thực hiện Luật Quản lý, sử dụng tài sản công, hướng tới xây dựng Bộ Luật Quản lý, sử dụng tài sản công và các văn bản hướng dẫn. Nghiên cứu xây dựng kế hoạch quản lý, sử dụng, khai thác tài sản công ở cấp quốc gia và cấp địa phương; xây dựng, đưa vào vận hành hệ thống giao dịch điện tử về tài sản công; mở rộng, nâng cấp cơ sở dữ liệu quốc gia về tài sản công. Rà soát, hoàn thiện chính sách tài chính về đất đai, khai thác tài nguyên thiên nhiên.

– Đổi mới cơ chế quản lý, cấp phát ngân sách nhà nước; đổi mới cơ chế tự chủ tài chính của đơn vị sự nghiệp công lập; khuyến khích, hỗ trợ thực hiện xã hội hoá đối với đơn vị sự nghiệp công lập.

IV- TỔ CHỨC THỰC HIỆN

1. Các cấp uỷ, tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, tổ chức chính trị – xã hội tổ chức phổ biến, quán triệt và xây dựng kế hoạch thực hiện nghiêm túc Nghị quyết.

2. Đảng đoàn Quốc hội chỉ đạo việc rà soát, sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan đến công tác quản lý, khai thác, sử dụng và phát huy các nguồn lực của nền kinh tế, tạo cơ sở pháp lý đồng bộ, thống nhất cho việc thực hiện và giám sát thi hành.

3. Ban cán sự đảng Chính phủ, Ban cán sự đảng các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, các tỉnh uỷ, thành uỷ, đảng đoàn, đảng uỷ trực thuộc Trung ương tiến hành kiểm kê, đánh giá đầy đủ các nguồn nhân lực, vật lực, tài lực của toàn bộ nền kinh tế và từng địa phương, làm rõ thực trạng quản lý, khai thác, sử dụng và phát huy các nguồn lực. Các bộ, ngành, địa phương theo chức năng, nhiệm vụ được giao cụ thể hoá các mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp nêu trong Nghị quyết; xây dựng và triển khai thực hiện các đề án nhằm quản lý, khai thác, phân bổ và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực chung của đất nước cũng như của từng bộ, ngành, địa phương. Rà soát, sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện các văn bản dưới luật, xây dựng cơ chế, chính sách có liên quan tới việc quản lý, khai thác, sử dụng các nguồn lực của nền kinh tế; thường xuyên theo dõi, kiểm tra, đánh giá tình hình thực hiện và kịp thời điều chỉnh các chương trình, kế hoạch, giải pháp cụ thể phù hợp với yêu cầu thực tế, bảo đảm thực hiện có hiệu quả Nghị quyết. Định kỳ 5 năm rà soát, cập nhật về thực trạng quản lý, khai thác, sử dụng và phát huy các nguồn lực của nền kinh tế.

4. Ban Kinh tế Trung ương chủ trì, phối hợp với các ban cán sự đảng, đảng đoàn và cấp uỷ trực thuộc Trung ương thường xuyên theo dõi, kiểm tra, đôn đốc, sơ kết, tổng kết, định kỳ báo cáo Bộ Chính trị kết quả thực hiện Nghị quyết./.

Theo Cổng Thông tin Chính phủ

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s